|
Văn hoá - Thể thao » 12 dân tộc anh em |
Dân tộc Hoa
Dân tộc Hoa còn gọi là Hán, gồm những nhóm khác biệt nhau nhất định về tiếng nói, tên gọi, lịch sử di cư. Đồng bào Hoa ở tỉnh ta hiện nay không nhiều, cư trú chủ yếu ở các thị trấn, thị xã, làm nghề buôn bán nhỏ, mở hàng ăn.Trong gia đình người Hoa, chồng là chủ hộ; cha mẹ là người quyết định hôn nhân cho con cái. Người Hoa thích “Sơn ca” (san của), ca kịch; ngày tết thường biểu diễn múa sư tử, múa quyền thuật và nhiều phong tục dân gian đặc sắc.
|
|  |
Dân tộc Lào
Dân tộc Lào ở Sơn La thuộc nhóm Lào cạn, đồng bào cư trú chủ yếu ở huyện Sông Mã, Thuận Châu. Tiếng Lào thuộc ngôn ngữ Tày- Thái, người Lào thờ tổ tiên, chịu ảnh hưởng của đạo phật.
Phụ nữ Lào nổi tiếng khéo tay dệt vải. Họ mặc váy đen quấn cao đến ngực, gấu váy thêu hoa văn rực rỡ; áo ngắn bó lấy thân với hàng khuy bạc; tay ưa đeo nhiều vòng.Trong vốn văn nghệ dân gian, người Lào có điệu múa lăm vông và các làn điệu dân ca nổi tiếng.
|
|  |
Dân tộc Kháng
Dân tộc Kháng thuộc nhóm người dân tộc thiểu số ở Sơn La, cư trú ở các huyệnThuận Châu, Quỳnh Nhai, Mường La. Dân tộc Kháng còn có tên gọi khác là: Xá Khao, Xá Xúa, Xá Đôn, Xá Dâng, Xá Hộc, Xá ái, Xá Bung. Tiếng Kháng thuộc nhóm ngôn ngữ Môn- Khơ mer.
Người Kháng canh tác theo lối làm nương rẫy chọc lỗ bỏ hạt, trồng lúa nếp. Trang phục phụ nữ Kháng giống phụ nữ Thái, nhuộm răng đen, ăn trầu. Người Kháng ở nhà sàn có 3 gian, 2 trái, mái mai rùa. Theo phong tục, người chết được chôn cất rất chu đáo, trên mộ có nhà mồ. Người Kháng quan niệm mỗi người có 5 hồn. Bố mẹ chết được thờ trên tấm phên ở góc nhà, đó là ma nhà. Hàng năm dân bản cúng ma trời và ma đất 1 lần.
|
|  |
Dân tộc La Ha
Ở nước ta, dân tộc La Ha cư trú tại Sơn La và Lào Cai. Đồng bào có tên gọi là Xá, Puộc, Xá Khao, Pụa, Khlá, PLạo. Tiếng La Ha thuộc nhóm ngôn ngữ Ka đai. Hiện nay ở tỉnh ta người La Ha cơ trú đông nhất ở Thuận Châu và Mường La.
Dân tộc La La sống chủ yếu bằng nghề nương rẫy, theo lối du canh, hái lượm, săn bắn và đánh bắt cá. Ngày nay, nhiều nơi đồng bào đã làm ruộng, quần tụ thành bản với vài chục nóc nhà.
Người La Ha không dệt vải mà chỉ trồng bông đem đổi với người Thái để lấy quần áo mặc nên giống người Thái đen. Hàng năm vào mùa hoa Ban nhà nhà đều làm lễ tạ ơn cha mẹ.
|
|  |
Dân tộc Khơ Mú
Dân tộc Khơ Mú thuộc nhóm dân tộc thiểu số ở tỉnh ta, đồng bào cư trú chủ yếu ở các huyện Yên Châu, Mai Sơn, Thuận Châu, Mường La, Quỳnh Nhai, Sông Mã. Tên gọi khác của đồng bào Khơ Mú còn gọi là Xá Cẩu, Nứa Xen, Pu Thành, Tày Hạy. Tiếng Khơ Mú thuộc nhóm ngôn ngữ Môn- Khơ mer.
Người Khơ Mú sống chủ yếu bằng nghề nương rẫy, hái lượm giữ vị trí quan trọng. Người Khơ Mú không phát triển nghề dệt vải mà mua, trao đổi quần áo của người Thái để mặc. Sắc thái người Khơ Mú qua trang phục đã bị mai một, tuy nhiên trang phục của người phụ nữ Khơ Mú còn khá rõ và riêng biệt.
Họ của người Khơ Mú thường mang tên một loài thú, một loại chim - mỗi dòng họ có một huyền thoại. Dân tộc Khơ Mú tuy cuộc sống vật chất nghèo khó, nhưng đời sống tinh thần và văn hoá lại khá dồi dào, tiêu biểu là các điệu xoè, Tăng bu, công tấp, áu eo .
|
|  |
Dân tộc Tày
Dân tộc Tày là cộng đồng thuộc nhóm ngôn ngữ Tày - Thái. ở tỉnh ta dân tộc Tày số lượng không nhiều. Dân tộc Tày còn có tên gọi là Thổ. Phần đông người Tày cư trú ven các thung lũng, triền núi thấp.
Người Tày có một nền nông nghiệp cổ truyền khá phát triển, với đủ loại cây trồng, như: Lúa, ngô, khoai, rau quả. Bản của đồng bào Tày thường ở ven suối, triền núi từ 15- 20 nóc nhà. Tên bản thường gọi theo tên đồi núi, ruộng đồng, khúc suối. Trong nhà phân biệt phòng nam ở ngoài, phòng nữ ở trong. Người Tày mặc quần áo vải bông nhuộm chàm, áo phụ nữ dài đến bắp chân, ống tay hẹp, xẻ nách ở bên phải, cài 5 khuy.
Thờ cúng tổ tiên là nghi lễ hàng đầu của người Tày. Nơi thờ tổ tiên ở vị trí trung tâm, tôn nghiêm nhất trong nhà. Dân tộc Tày có một nền văn nghệ cổ truyền phong phú, đủ các thể loại: Thơ, ca, múa, nhạc, có cả múa rối.
Người Tày mến khách, cởi mở, dễ gần, thích nói chuyện. Họ rất trọng những người cùng tuổi, khi đã kết nghĩa bạn bè thì coi như anh em ruột thịt.
|
|  |
Dân tộc Xinh Mun
Dân tộc Xinh Mun ở tỉnh ta chia làm 2 nhóm Xinh Mun nghẹt và Xinh Mun dạ, cư trú chủ yếu ở vùng biên giới Việt- Lào thuộc huyện Yên Châu. Ngoài ra, còn có một số sống rải rác ở các huyện Mai Sơn, Thuận Châu, Mường La. Người Xinh Mun còn có tên gọi là Puộc, Pụa. Tiếng Xinh Mun thuộc nhóm ngôn ngữ Môn- Khơ Mer.
Người Xinh Mun sống chủ yếu bằng nghề làm nương rẫy, theo lối trọc lỗ bỏ hạt. Người Xinh Mun xưa kia sinh sống nhờ hái lượm và săn bắn. Nghề đan lát khá phát triển, đồ đan đẹp và bền. Đồng bào Xinh Mun thường đan lát cho người Thái, người Lào để lấy quần áo mặc. Trước kia người Xinh Mun sống du canh du cư, nay đồng bào đã ổn định, lập bản đông đúc. Đồng bào ở nhà sàn, mái hình mai rùa, có hai thang lên xuống ở hai đầu. Người Xinh Mun thường mang họ Lò và họ Vi. Các hình thức sinh hoạt văn hoá như thờ tổ tiên, sảy típ, mạ ma mang đậm cốt cách dân tộc Xinh Mun.
|
|  |
Dân tộc Dao
 |
Dân tộc Dao ở Sơn La quần cư chủ yếu ở các huyện Phù Yên, Mộc Châu, Yên Châu, Bắc Yên. Dân tộc Dao ở Sơn La chiếm 2,5% dân số. Ngôn ngữ thuộc nhóm Mông- Dao, các nhóm Dao đều thờ tổ tiên là họ Bàn Hồ. Đồng bào Dao sống chủ yếu bằng nghề trồng lúa nương và ruộng nước. Nông cụ sản xuất thô sơ, nhưng canh tác có nhiều tiến bộ. Một số nghề thủ công phát triển như: Dệt vải, rèn, mộc, ép dầu.
Đàn ông Dao để tóc dài, búi sau gáy, hoặc để chỏm trên đỉnh đầu, nay hầu hết đã cắt tóc ngắn. Y phục thường gồm quần và áo dài, áo ngắn. Trang phục phụ nữ phong phú hơn, giữ nhiều nét trang trí hoa văn truyền thống. Phụ nữ Dao để tóc dài. Cô dâu ngày cưới đội mũ. Dưới chế độ cũ, lễ cưới gồm nhiều nghi thức phức tạp.
Dân tộc Dao có nền văn hoá và lịch sử lâu đời. Mặc dù điều kiện, cơ sở kinh tế thấp kém, nhưng đời sống văn hóa dân gian rất phong phú, đặc biệt là y phục dân tộc cổ truyền. Đồng bào Dao không có văn tự riêng mà sử dụng chữ Hán đã được Dao hoá gọi là chữ Nàm Dao. Người Dao có quan hệ họ hàng chặt chẽ và thông qua tên đệm để xác định dòng họ, vai vế của người đó trong quan hệ họ hàng.
|
|  |
Dân tộc Kinh
 |
Dân tộc Kinh còn gọi là người Việt, ở Sơn La là nhóm đông thứ hai, chiếm 18% dân số toàn tỉnh. Dân cư tập trung ở các khu đô thị, thị tứ. Tiếng Kinh thuộc ngôn ngữ Việt - Mường.
Ngoài bộ phận đồng bào kinh cư trú tại địa bàn Sơn La từ xa xưa, nhiều người mới chuyển đến từ đồng bằng Bắc Bộ, Bắc Trung Bộ. Nhất là từ khi nghe theo tiếng gọi của Đảng xây dựng phát triển kinh tế miền núi, đồng bào Kinh từ các tỉnh đồng bằng lên Sơn La; gia đình của bộ đội tham gia chiến dịch Điện Biên Phủ ở lại xây dựng miền núi khá đông. Hiện nay, một số vùng trong tỉnh đông đồng bào Kinh sinh sống, gồm đồng bào Kinh tỉnh Hải Hưng ở khu vực huyện Sông Mã, Yên Châu; tỉnh Thái Bình ở Thuận Châu, tỉnh Hà Tây ở Mai Sơn v.v.
Đồng bào Kinh ở Sơn La sinh sống xen kẽ với đồng bào các dân tộc, đã nhanh chóng hoà nhập trong lao động sản xuất, giao lưu văn hoá, đoàn kết tạo ra sự gắn kết, hoà nhập cùng phát triển trên mảnh đất Sơn La.
Đồng bào Kinh ở Sơn La sinh sống xen kẽ với đồng bào các dân tộc, đã nhanh chóng hoà nhập trong lao động sản xuất, giao lưu văn hoá, đoàn kết tạo ra sự gắn kết, hoà nhập cùng phát triển trên mảnh đất Sơn La.
|
|  |
Dân tộc Mường
 |
Dân tộc Mường ở tỉnh ta là bộ phận dân tộc đông thứ tư, chiếm 8,4% dân số, cư trú chủ yếu ở vùng Phù Yên, Bắc Yên, Mộc Châu. Người Mường có tên gọi MoJ, Mual, Moi. Tiếng Mường thuộc nhóm ngôn ngữ Việt- Mường. Người Mường thờ cúng tổ tiên và tin vào đa thần giáo.
Đồng bào Mường định cư ở nơi có nhiều đất sản xuất, gần đường giao thông và có nghề làm ruộng lâu đời. Nghề thủ công tiêu biểu của dân tộc Mường là dệt vải, đan lát, ươm tơ. Phụ nữ Mường dệt thủ công kỹ nghệ khá tinh xảo. Trang phục nam giới Mường là quần áo cánh màu chàm. Phụ nữ đội khăn trắng hình chữ nhật, mặc yếm và áo cánh ngắn, thân cổ, xẻ ngực (có nơi xẻ vai), ít cài cúc. Váy của phụ nữ Mường khá dài được dệt bằng tơ, nhuộm màu, tạo những hoa văn hình học và hình con rồng, phượng, hươu, chim rất đẹp.
Đồng bào Mường có nhiều ngày lễ hội hàng năm: Hội xuống đồng (khuống mùa), hội cầu mưa (tháng 4), lễ rửa lá, lễ cơm mới v.v. Kho tàng văn nghệ dân gian của dân tộc Mường khá phong phú, có các thể loại: Thơ dài, bài mo, truyện cổ, dân ca, đồng dao, tục ngữ. Cồng là nhạc cụ rất đặc sắc của đồng bào Mường. Ngoài ra, còn có nhị, sáo, trống, khèn, tù.
|
|  |
| | |