English     Trang chủ    Giới thiệu     Sơ đồ trang    Góp ý   

Định hướng phát triển kinh tế-xã hội 10 năm (2001-2010)
Định hướng phát triển kinh tế-xã hội 10 năm (2001-2010)

Mục tiêu tổng quát
1. Tạo lập các yếu tố cơ bản để đẩy mạnh phát triển kinh tế hàng hoá hình thành cơ cấu kinh tế tiến bộ theo hướng công nghiệp hoá-hiện đại hoá. Trọng tâm  và chủ yếu là đẩy mạnh công nghiệp hoá hiện đại hoá kinh tế nông nghiệp-nông thôn; xây dựng một nền nông nghiệp hàng hoá phát huy toàn diện những lợi thế so sánh, gắn với nhu cầu của thị trường. Hình thành rõ cơ cấu kinh tế nông-lâm nghiệp-công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ gắn với chuyển dịch cơ cấu lao động, xây dựng nông thôn mới gắn bó hữu cơ với kinh tế đô thị.



2. Tăng trưởng và chuyển dịch kinh tế nhanh hơn thời kỳ 1991-2000, đưa nền kinh tế của tỉnh thoát khỏi trạng thái đặc biệt khó khăn và tình trạng thuần nông. Chất lượng nhiều mặt đời sống của nhân dân các dân tộc được nâng lên một mức đáng kể, thu hẹp khoảng cách giữa các vùng, các dân tộc và với các tỉnh bạn. 

3. Hình thành cơ bản và đồng bộ nền kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa, nguồn lực con người, năng lực khoa học kỹ thuật, kết cấu hạ tầng, tiềm lực an ninh, quốc phòng được tăng cường và trở thành một tỉnh phát triển khá trong khu vực miền núi phía Bắc.

Mục tiêu cụ thể 

1. Tốc độ tăng GDP bình quân trên 10%/năm, GDP bình quân/người tăng gấp hơn 2 lần so với năm 2000; giá trị nông sản hàng hoá tăng 1,5-1,7 lần, nâng cao rõ rệt hiệu quả và sức cạnh tranh của sản phẩm. 

2. Đẩy mạnh công nghiệp hoá - hiện đại hoá, hình thành rõ 3 cụm kinh tế công nghiệp: Thị xã, Mộc Châu, Mai Sơn và các cụm kinh tế - kỹ thuật trung tâm cụm xã, thúc đẩy nhanh sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế và cơ cấu lao động nông thôn đạt được tỷ lệ:  nông - lâm nghiệp chiếm 40-42% công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp 21-22%, dịch vụ 37-38%.

3. Tuyệt đại đa số lao động khu vực nông nghiệp-nông thôn được chuyển giao kỹ thuật về sản xuất hàng hoá, sử dụng công cụ lao động và công nghệ mới tiến bộ; một số lĩnh vực đạt trình độ công nghệ hiện đại. Tỷ lệ lao động được đào tạo nghề trong nền kinh tế-xã hội chiếm tỷ trọng 20-25%; hình thành đội ngũ công nhân kỹ thuật tay nghề cao, cán bộ khoa học-kỹ thuật và cán bộ quản lý đầu đàn trên một số lĩnh vực quan trọng; cao đẳng và đại học hoá phần lớn đội ngũ cán bộ chủ chốt các doanh nghiệp và cán bộ của các cơ quan quản lý Nhà nước ở tỉnh, huyện và trung cấp hoá đội ngũ cán bộ xã, phường, thị trấn.

- Hoàn thành chương trình phổ cập giáo dục trung học cơ sở; đảm bảo 100% trẻ em đến tuổi đi học được đến trường; người có bệnh được điều trị; thanh toán một số bệnh như: phong, bướu cổ; ngăn chặn không để phát triển thành dịch các loại bệnh đe doạ tính mạng và sức khoẻ của nhân dân.

- Cơ bản không còn hộ nghèo (theo tiêu chuẩn hiện nay) đại bộ phận nhân dân các dân tộc đạt mức khá giả,

4. Xây dựng đồng bộ kết cấu hạ tầng quan trọng, thiết yếu đáp ứng được yêu cầu phát triển kinh tế-xã hội và củng cố quốc phòng an ninh.

 - Xây dựng địa bàn sản xuất một cách đồng bộ, bền vững và hiệu quả. Nhất là các sản phẩm hàng hoá chủ lực.

- Hoàn thành hệ thống đường quốc lộ, tỉnh lộ, và giao thông nông thôn  đảm bảo lưu thông thông suốt quanh năm và  an toàn; tất cả các xã có điện lưới quốc gia và nguồn điện tại chỗ ổn định, có điện thoại và dịch vụ bưu chính, viễn thông cơ bản, có trạm xá, y tế bản và đủ giường bệnh cho bệnh nhân, trường học kiên cố không phải học 2 ca, có nơi sinh hoạt văn hoá thể thao.

- Hình thành cơ bản các trung tâm cụm xã nhất là vùng II, vùng III, điều chỉnh lại dân cư, xây dựng nông thôn mới và phát triển đô thị. 

5. Vai trò chủ đạo của kinh tế Nhà nước được tăng cường; doanh nghiệp Nhà nước được đổi mới, phát triển sản xuất kinh doanh có hiệu quả; kinh tế hợp tác xã và các thành phần kinh tế khác, kể cả các chủ thể kinh tế ngoài tỉnh và nước ngoài vào đầu tư ở tỉnh đều phát triển, thể chế kinh tế thị trường hình thành cơ bản tạo môi trường thuận lợi cho các thành phần kinh tế cạnh tranh lành mạnh, cùng phát triển.

 - 100% số xã có điện; 80% số hộ được dùng nước sạch; 100% số xã được phủ sóng phát thanh - truyền hình; 100% số hộ có nhà ở bền vững. 

Định hướng phát triển các ngành kinh tế 

 1. Công nghiệp hoá - hiện đại hoá nông nghiệp - nông thôn 

Được coi là nhiệm vụ trọng tâm, hàng đầu của chiến lược phát triển kinh tế - xã hội đến năm 2010. Với ý nghĩa đó, công nghiệp hoá - hiện đại hoá nông nghiệp - nông thôn tập trung vào nhiệm vụ chủ yếu đó là: đẩy nhanh tốc độ chuyển dịch cơ cấu ngành nghề, cơ cấu lao động theo hướng chuyển một bộ phận lớn lao động thuần nông sang phát triển ngành nghề, dịch vụ; hình thành nền nông nghiệp hàng hoá gắn với nhu cầu thị trường, rõ lợi thế. Đưa nhanh tiến bộ khoa học công nghệ vào sản xuất nông - lâm nghiệp và địa bàn nông thôn đạt trình độ trung bình tiên tiến của cả nước, có mặt hiện đại so với khu vực. Tăng hiệu quả sản xuất kinh doanh, phấn đấu giá trị thu nhập trên một đơn vị diện tích tăng 2,5 đến 3 lần so với hiện nay; tăng năng suất lao động, nâng cao chất lượng, giảm giá thành, tăng sức cạnh tranh của sản phẩm.

- Triển khai thực hiện có hiệu quả chương trình phát triển công nghệ, công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp địa bàn nông thôn, trước hết là phát triển công nghệ và hệ thống dịch vụ giống chất lượng cao, công nghệ bảo quản, chế biến sau thu hoạch. Đẩy mạnh chương trình điện khí hoá, cơ giới hoá trong sản xuất nông nghiệp và địa bàn nông thôn, hình thành sự liên kết nông nghiệp - công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ trên từng địa bàn và trong cả tỉnh.

- Phát triển nền nông - lâm nghiệp - thuỷ sản hàng hoá rõ lợi thế. Trên cơ sở quy hoạch địa bàn sản xuất đồng bộ. Trước hết ưu tiên cho các vùng sản xuất hàng hoá tập trung, các cây, con chủ lực, đảm bảo an ninh lưong thực địa bàn nông thôn. Phát triển các vùng cây công nghiệp đáp ứng yêu càu nguyên liệu cho công nghiệp chế biến, xuất khẩu. Phấn đấu năm 2010 đạt quy mô diện tích cây chủ lực: 15.000 ha chè, 10.000 ha cà phê, 3.000 ha dâu tằm, 4.000 ha mía, 30.000 ha cây ăn quả.

Đảm bảo an ninh lương thực trên quan điểm sản xuất hàng hoá, giảm mạnh diện tích trồng cây ngắn ngày trên nương dốc, đẩy mạnh việc xây dựng nương bậc thang, đưa tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất nhằm tăng năng suất, chất lượng và hiệu quả sản xuất. Năm 2010 phấn đấu đạt 33 vạn tấn lương thực (cây có hạt).

Phát triển chăn nuôi gia súc, gia cầm theo hướng sản xuất hàng hoá tại các hộ gia đình, tổ chức lại thị trường tiêu thụ cho nông dân; khai thác lợi thế nuôi gia súc lấy thịt, sữa xuất khẩu. Xúc tiến khai thác, nuôi trồng thuỷ sản, nuôi ong gắn với phát triển kinh tế trang trại. Đưa cơ cấu tỷ trọng giá trị sản phẩm và giá trị sản phẩm hàng hoá xuất khẩu trong chăn nuôi chiêms tỷ trọng ngày càng tăng trong cơ cấu sản xuất ngành nông nghiệp. Phấn đấu đến năm 2010 đạt bò sữa đạt 6.000 con; tỷ lệ đàn bò được Sind hoá đạt trên 60%; sản lượng thịt bình quân/ người đạt 30 kg/năm, tiến tới xuất khẩu thịt bò.

Khôi phục phát triển vốn rừng, tăng cường khả năng phòng hộ rừng đầu nguồn cho các công trình thuỷ điện lớn trên sông Đà và các địa bàn xung yếu, bảo vệ môi trường sinh thái bền vững. Phát triển mạnh trồng rừng kinh tế đảm bảo đủ nguyên liệu cho các cơ sở công nghiệp lâm sản, gỗ xây dựng, cung cấp một phần lớn gỗ trụ mỏ cho xây dựng thuỷ điện Sơn La. Hoàn thiện việc giao và cấp quyền sử dụng đất và đất rừng cho các tô chức và hộ gia đình đảm bảo đúng luật, theo quy hoạch và hiệu quả. Phấn đấu đến năm 2010 độ che phủ rừng đạt trên 60%.

- Tăng cường tiềm lực khoa học, công nghệ trong sản xuất nông nghiệp, nhất là công nghệ sinh học trong sản xuất và hình thành hệ thống giống chất lượng cao, công nghệ bảo quản, chế biến sau thu hoạch từ tỉnh đến các địa bàn sản xuất. Nâng cao chất lượng của hệ thống khuyến nông, khuyến lâm ở cơ sở, các TTCX địa bàn nông nghiệp nông thôn. Đảm bảo 100% nông dân được hướng dẫn, chuyển giao kỹ thuật sản xuất nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hoá.

- Tăng cường đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội địa bàn nông thôn, trước hết tập trung xây dựng đồng bộ kết cấu hạ tầng các TTCX, TTCX trọng điểm, các xã khó khăn nhất, các thị trấn, thị tứ, chấm dứt tình trạng di dịch cư tự do, hoàn thành cuộc vận động định canh định cư, ổn định vững chắc, xây dựng cuộc sống văn minh, dân chủ, công bằng ở nông thôn.

Hoàn thành về cơ bản chương trình kiên cố hoá kênh mương nội đồng, các công trình thuỷ lợi đầu mối, thuỷ lợi tưới ẩm ở các địa bàn sản xuấ hàng hoá tập trung; các tuyến đường giao thông huyết mạch đến các xã, các vùng sản xuất hàng hoá, các cụm dân dư tập trung ... đảm bảo có thể ứng phó kịp thời, hiệu quả với những diễn biến bất thường của khí hậu, thời tiết, ổn định sản xuất và đời sống dân cư.

 Giá trị sản xuất nông - lâm nghiệp tăng bình quân thời kỳ 2001-2010 là 7,1%/năm; GDP nông - lâm nghiệp chiếm tỷ trọng 40-42%; chuyển 30% số lao động nông thôn sang sản xuất ngành nghề tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ.

 2. Phát triển công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp và xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội đáp ứng tiến trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá. 

 

Củng cố, phát triển nhanh những ngành công nghiệp mà địa phương có lợi thế và phục vụ cho xây dựng thuỷ điện Sơn La, trước hết là công nghiệp chế biến nông - lâm sản xuất khẩu, sản xuất vật liệu xây dựng, cơ khí sửa chữa, tiểu thủ công nghiệp và ngành nghề địa bàn nông thôn.

Đổi mới thiết bị công nghệ, đầu tư chiều sâu các cơ sở công nghiệp hiện có; nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả sản xuất kinh doanh, giảm giá thành sản phẩm, tăng khả năng cạnh tranh của sản phẩm trên thị trường trong nước và thị trường xuất khẩu. Tập trung đầu tư xây dựng và phát triển hệ thống dịch vụ 3 cụm công nghiệp lớn của tỉnh: Thị xã, Mai Sơn và Mộc Châu đạt trình độ công nghệ trung bình tiên tiến của khu vực, có mặt hiện đại. Hình thành một số cụm công nghiệp cơ khí sửa chữa và chế tạo phương tiện vận tải nhỏ, hệ thống cảng sông, kho bãi... dọc sông Đà, các cơ sở chế biến, bảo quản nông sản sau thu hoạch, ngành nghề tiểu thủ công nghiệp địa bàn nông thôn, trước hết là các TTCX và TTCX trọng điểm.

Huy động và nâng cao hiệu quả sử dụng các nguồn lực cho đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng phục vụ cho yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội và củng cố quốc phòng - an ninh. Đẩy mạnh việc ứng dụng các công nghệ hiện đại, nâng cao năng lực và chất lượng công tác quy hoạch, kiến trúc, kiến thiết và xây dựng các công trình kết cấu hạ tầng đô thị, nông thôn vừa đảm bảo tính hiện đại vừa phát huy bản sắc kiến trúc văn hoá các dân tộc. Phát triển các doanh nghiệp mạnh đủ sức tham gia đấu thầu thi công xây dựng trong nước. Tăng cường công tác quản lý Nhà nước trong đầu tư xây dựng. Đặc biệt chú trọng đầu tư xây dựng các công trình kết cấu hạ tầng thiết yếu, tạo lập các cơ sở vật chất kỹ thuật cơ bản cho quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá nền kinh tế: Xây dựng địa bàn sản xuất; hệ thống giao thông, điện, thuỷ lợi (kể cả tưới ẩm), cấp nước, bưu chính viễn thông; các trung tâm thương mại dịch vụ; công trình phúc lợi công cộng; giáo dục, y tế, văn hoá - xã hội, phát thanh - truyền hình ...

 Phấn đấu năm 2010 cơ cấu GDP công nghiệp - xây dựng chiếm tỷ trọng 22-24% so GDP toàn tỉnh; giá trị sản xuất công nghiệp tăng bình quân thời kỳ 2001-2010 đạt 17,4%/năm; 40-50% diện tích đất canh tác vùng I và vùng II được cơ giới hoá; 100% số xã có đường ô tô đến trung tâm xã; 53 tuyến đường ô tô đến TTCX được nhựa hoá; 100% các trường PTTH, THCS và 60-70% trường tiểu học được xây dựng 2 tầng; 100% số xã có điện sinh hoạt; 80% dân số được dùng nước sạch. 

3. Phát triển mạnh các loại hình dịch vụ 

Mở rộng và nâng cao hiệu quả kinh tế đối ngoại, xây dựng các trung tâm xúc tiến thương mại chất lượng cao tại các đô thị lớn, đồng thời mở rộng hệ thống dịch vụ cho sản xuất, đời sống địa bàn nông thôn và các TTCX vừa tạo việc làm vừa thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.

Chủ động và tích cực thâm nhập thị trường trong nước, thị trường xuất khẩu, thị trường các tỉnh Bắc Lào, hội nhập với nền kinh tế thị trường của cả nước. Xây dựng và hình thành rõ trung tâm thương mại dịch vụ thị xã Sơn La, thị xã du lịch Mộc Châu, hệ thống chợ, của hàng dịch vụ tại các TTCX, các cụm kinh tế thương mại cửa khẩu.

Tổ chức lại sản xuất kinh doanh xuất nhập khẩu, đặc biệt với các sản phẩm xuất khẩu có lợi thế so sánh của địa phương. Khuyến khích các thành phần kinh tế đầu tư kinh doanh xuất nhập khẩu từ khâu sản xuất, xây dựng vùng nguyên liệu, chế biến và lưu thông hàng hoá xuất nhập khẩu.

Khai thác có hiệu quả tiềm năng về du lịch sinh thái, văn hoá, thăm quan di tích lịch sử, phát triển kinh tế du lịch, xây dựng và đưa vào hoạt động có hiệu quả các điểm du lịch vùng Mộc Châu, Thị xã, Mai Sơn và vùng hồ Sông Đà, tour du lịch vùng Tây Bắc: Hà Nội - Sơn La - Điện Biên phủ - Lào Cai.

Tiếp tục phát triển nhanh, hiện đại hoá dịch vụ bưu chính viễn thông, đẩy mạnh việc ứng dụng công nghệ thông tin hiện đại trong hệ thống lãnh đạo, quản lý, điều hành của hệ thống chính trị, trong các hoạt động kinh tế, dịch vụ ngân hàng, thương mại, y tế, giáo dục từ xa, tư vấn phục vụ đời sống...

Cải thiện môi trường đầu tư thông qua hệ thống cơ chế chính sách thông thoáng, hiệu quả, thu hút các nguồn vốn đầu tư của các tổ chức  chính phủ, phi chính phủ và các nhà đầu tư trong nước đến Sơn La làm ăn hợp tác.

 Tốc độ tăng trưởng GDP dịch vụ thời kỳ 2001-2010 tăng bình quân 13,3%/năm; GDP dịch vụ chiếm tỷ trọng 35-36% so GDP toàn tỉnh. Tổng giá trị xuất khẩu đạt 30 triệu USD, tăng hơn 4 lần so năm 2000.

4. Phát triển sự nhiệp giáo dục - đào tạo và khoa học công nghệ đáp ứng yêu cầu công nghiệp hoá - hiện đại hoá. 

- Tiếp tục nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác giáo dục - đào tạo, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực cho yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội và củng cố quốc phòng - an ninh nhanh và bền vững. Củng cố vững chắc kết quả phổ cập giáo dục tiểu học - xoá mù chữ, đẩy mạnh phổ cập THCS trên phạm vi toàn tỉnh; thực hiện có hiệu quả công tác phân luồng giáo dục - đào tạo đảm bảo đào tạo nguồn nhân lực có chất lượng và cơ cấu hợp lý. Tạo điều kiện để mọi người, mọi lứa tuổi đều được học tập trong môi trường giáo dục lành mạnh; mọi lao động đều được hướng nghiệp, chuyển giao kỹ thuật sản xuất phổ thông; một số ngành và lĩnh vực quan trọng phải được đào tạo nghề. Điều chỉnh hợp lý cơ cấu cấp học, bậc học, cơ cấu ngành nghề, cơ cấu vùng trong hệ thống giáo dục đào tạo. Coi trọng giáo dục mầm non; đẩy mạnh giáo dục hướng nghiệp trong các trường phổ thông, chuyển giao kỹ thuật sản xuất ở địa bàn nông thôn và các TTCX. Mở rộng đào tạo công nhân kỹ thuật viên, nhân viên nghiệp vụ theo nhiều trình độ. Coi trọng đào tạo đội ngũ công nhân kỹ thuật trình độ cao, kỹ sư thực hành và nhà kinh doanh giỏi. Nâng cao chất lượng đào tạo cán bộ đại học, sau đại học, cán bộ ở cơ sở. Hoàn thành xây dựng, đưa vào hoạt động trường đại học Tây Bắc. Đổi mới chương trình giáo dục đào tạo theo hướng thiết thực, hiện đại; đưa chương trình giáo dục ngoại ngữ, tin học vào các trường phổ thông ở các cấp học, tiến tới phổ cập ngoại ngữ, tin học hệ THCS và PTTH phạm vi toàn tỉnh. Tăng cường và nâng cao hiệu quả công tác giáo dục thế hệ trẻ tinh thần yêu nước, yêu CNXH, ý thức tự tôn dân tộc, lòng nhân ái, tôn trọng pháp luật, tinh thần hiếu học, chí tiến thủ lập nghiệp, ý chí vươn lên không cam chịu nghèo hèn, lạc hậu.

Xây dựng, phát triển đội ngũ giáo viên, coi trọng nâng cao chất lượng và đạo đức su phạm. Đảm bảo đủ số lượng giáo viên so với số học sinh  theo yêu cầu của từng cấp học, nâng cao chất lượng đào tạo đội ngũ giáo viên, đảm bảo cơ bản đội ngũ giáo viên đạt chuẩn quốc gia ở các cấp học.

Tăng cường cơ sở vật chất và từng bước kiên cố hoá, hiện đại hoá hệ thống trường lớp, trang thiết bị trường học. Tăng đầu tư cho hệ thống giáo dục từ ngân sách Nhà nước, đẩy mạnh xã hội hoá công tác giáo dục - đào tạo, nâng cao năng lực quản lý Nhà nước trong hệ thống giáo dục - đào tạo, lập lại kỷ cương, đẩy lùi các hiện tượng tiêu cực.

Mục tiêu chủ yếu đến năm 2010: phổ cập THCS; 25% số lao động trong nền kinh tế được đào tạo nghề; 100% số lao động được chuyển giao kỹ thuật sản xuất phổ thông; 100% số phòng học được xây dựng từ cấp 4 trở lên (các cấp học) trong đó 100% các trường THCS và PTTH được xây dựng nhà 2 tầng.

- Tăng cường tiềm lực khoa học công nghệ, đổi mới cơ chế quản lý để đưa khoa học công nghệ thực sự trở thành nền tảng và động lực của quả trình phát triển. Kết hợp chặt chẽ giữa khoa học tự nhiên, khoa học xã hội và nhân văn và khoa học công nghệ; giữa nghiên cứu, ứng dụng, đào tạo và sản xuất kinh doanh.

Khoa học xã hội và nhân văn đặt trọng tâm vào việc nghiên cứu tổng kết thực tiễn, giải quyết những tồn tại giữa lý luận  và thực tiễn trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội làm cơ sở cho việc hoạch định chiến lược quy hoạch và kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và phát huy nhân tố con người.

 Khoa học tự nhiên chú trọng công tác nghiên cứu cơ bản theo hướng ứng dụng phục vụ cho sự phát triển khoa học công nghệ, bảo vệ môi trường sinh thái bền vững. Đặc biệt chú trọng việc ứng dụng khoa học công nghệ đáp ứng yêu cầu nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm, hiệu quả sản xuất kinh doanh, tăng khả năng cạnh tranh của nền kinh tế trong quá trình hội nhập nền kinh tế thị trường. Đẩy mạnh ứng dụng khoa học công nghệ trong lĩnh vực sản xuất nông - lâm nghiệp (công nghệ sinh học trong việc xây dựng và hình thành hệ thống giống chất lượng cao, kỹ thuật thâm canh, bảo quản, chế biến sau thu hoạch), công nghệ vật liệu mới, cơ khí hoá, tự động hoá, công nghệ thông tin (trong công tác lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành của hệ thống chính trị, trong sản xuất kinh doanh và giáo dục đào tạo). Đổi mới công nghệ trong sản xuất kinh doanh và các lĩnh vực hoạt động khác, thu hẹp khoảng cách về trình độ công nghệ so với cả nước và một số nước trong khu vực. Đi thẳng vảo công nghệ hiện đại đối với một số ngành, lĩnh vực mà địa phương có lợi thế, nhất là công nghệ sản xuất các sản phẩm xuất khẩu. Đổi mới tổ chức, sắp xếp, nâng cao chất lượng hiệu quả hoạt động của hệ thống các trung tâm nghiên cứu, các trạm - trại nghiên cứu thực nghiệm trên địa bàn tỉnh; tăng cường mối quan hệ giữa các đơn vị sản xuất kinh doanh, các đơn vị sự nghiệp khoa học của địa phương với các Viện nghiên cứu, trường đại học và các trung tâm nghiên cứu, ứng dụng khoa học công nghệ của Trung ương và các tỉnh. Đổi mới chính sách đào tạo, chính sách đãi ngộ trí thức, trọng dụng và tôn vinh các tài năng, chính sách thu hút cán bộ khoa học kỹ thuật, các chuyên gia giỏi đến với Sơn La làm ăn, hợp tác. 

5. Phát triển sự nghiệp văn hoá - xã hội 

a. Tiếp tục triển khai có hiệu quả chương trình xoá đói giảm nghèo, định canh định cư, hỗ trợ đồn bào đặc biệt khó khăn. Nhà nước tạo môi trường thuận lợi, khuyến khích mọi thành phần kinh tế, mọi  người dân làm giàu chính đáng, giúp đỡ những người nghèo có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn.

Trên cơ sở rà soát lại quy hoạch sản xuất, điều chỉnh, sắp xếp lại dân cư để huy động các nguồn lực của toàn xã hội tăng đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng, cho vay vốn hỗ trợ sản xuất, trợ giúp đào tạo hướng nghiệp, dạy nghề, chuyển giao kỹ thuật, hỗ trợ tiêu thụ sản phẩm... đối với các xã nghèo, nhóm người nghèo khó khăn nhất. Mở rộng các ngành nghề dịch vụ, phân công lại lao động, tạo việc làm tăng thu nhập cho dân cư. Chủ động sắp xếp, di dời một bộ phận dân cư ở một số địa bàn không có đất canh tác và điều kiện sản xuất đến lập nghiệp ở các vùng còn tiềm tàng.

Đến năm 2010 phải cơ bản hoàn thành công tác định canh định cư, đưa tỉnh Sơn La ra khỏi tình trạng đặc biệt khó khăn và sản xuất thuần nông, tỷ lệ hộ nghèo (theo tiêu chí mới) còn 8%.

b. Phát triển văn hoá, thông tin - thể thao. Tiếp tục cuộc vận động xây dựng đời sống văn hoá, xây dựng nếp sống văn minh gia đình văn hoá trong các cộng đồng dân cư. Tiếp thu những tinh hoa văn hoá nhân loại, kế thừa phát huy bản sắc văn hoá các dân tộc; giữ gìn, quản lý, phát triển các di sản văn hoá vật thể, phi vật thể, các di tích lịch sử. Xây dựng các công trình văn hoá, các khu vui chơi công cộng, các làng văn hoá du lịch, các trung tâm văn hoá đô thị, các điểm văn hoá-thể thao - dịch vụ tại các xã và TTCX. Hoàn chỉnh cơ bản việc phổ cập các phương tiện phát thanh - truyền hình đến hộ gia đình. Tiếp tục nghiên cứu và thực hiện chương trình giáo dục tiềng nói, chữ viết các dân tộc trong các trường phổ thông. Khuyến khích sáng tác các tác phẩm văn học - nghệ thuật theo các chủ đề về chiến tranh và cách mạng, sự nghiệp đổi mới công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước về xã hội nhân văn và con người Sơn La.

Đẩy mạnh các hoạt động phong trào văn hoá, văn nghệ - thể thao quần chúng, nâng cao đời sống văn hoá tinh thần và sức khoẻ cho các cộng đồng dân cư, làm lành mạnh các quan hệ xã hội. Phát triển mạng lưới văn hoá thể thao ở cơ sở (cả đội ngũ huấn luyện viên, vận động viên và cơ sở vật chất); xây dựng, bồi dưỡng đội ngũ vận động viên có thành tích cao có thể tham gia thi đấu quốc gia và các tỉn trong khu vực. Đầu tư xây dựng một số trung tâm thể thao của tỉnh đạt tiêu chuẩn quốc gia. Mở rộng các hoạt động giao lưu văn hoá thể thao giữa Sơn La với cả nước và bạn bè quốc tế.

c. Phát triển sự nghiệp y tế, chăm sóc, bảo vệ sức khỏe cho nhân dân, tiếp tục cuộc vận động sinh đẻ có kế hoạch, ổn định quy mô dân số ở mức hợp lý.

Nâng cao chất lượng công tác phòng chống dịch bệnh, khám chữa bệnh, chăm sóc sức khoẻ của nhân dân, sức khoẻ sinh sản, sức khoẻ trẻ em, người cao tuổi... Kiên quyết không để xảy ra dịch bệnh lớn, thanh toán một số bệnh: phong, lao, bướu cổ, thương hàn... Củng cố, nâng cao chất lượng khám, điều trị của mạng lưới y tế từ tỉnh đến cơ sở. Hoàn thành, đưa vào hoạt động trung tâm y tế chất lượng cao tại thị xã Sơn La, từng bước hiện đại hoá trang thiết bị, dụng cụ y tế của các bệnh viện tuyến huyện, các phân viện cụm xã, trạm xá xã; trang bị đủ các loại thuốc cơ bản phục vụ điều trị các bệnh thông thường và bệnh dịch. Phấn đấu đến năm 2010: 100% các phân viện cụm xã, 60% trạm xá xã có đủ bác sỹ khám và điều trị; 100% số thôn bản đều có túi thuốc. Khuyến khích các thành phần kinh tế, các thày thuốc khai thác sản xuất thuốc chữa bệnh từ nguồn dược liệu tại chỗ, phá triển các dịch vụ khám chữa bệnh theo quy định của pháp luật và đáp ứng yêu cầu đa dạng của xã hội. Đổi mới cơ chế chính sách viện phí, bảo hiểm y tế, chính sách tợ giúp người nghèo đảm bảo mọi người dân khi ốm đau đều được chữa bệnh; đề cao y đức gắn với xây dựng và thực hiện quy chế hành nghề.

 Tiếp tục cuộc vận động sinh đẻ có kế hoạch, giảm tỷ tăng dân số tự nhiên bình quân 0,08-0,1%/năm; đến năm 2010 tỷ lệ tăng dân số tự nhiên 1,4%. Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực thông qua công tác giáo dục-đào tạo, chuyển giao công nghệ trên cơ sở  quy hoạch sắp xếp, điều chỉnh, cơ cấu lại dân cư gắn với địa bàn sản xuất; phát triển ngành nghề dịch vụ giải quyết việc làm, tăng thu nhập và nâng cao mức sống dân cư. 

Định hướng phát triển vùng 

Tiếp tục rà soát bổ sung đầu tư chiều sâu và nâng lên tầm cao mới chương trình phát triển kinh tế - xã hội 3 vùng chỉ đạo chiến lược: quốc lộ 6, vùng sông Đà, vùng cao biên giới. Mỗi vùng cần xác định rõ địa bạn trọng điểm, những ngành và lĩnh vực ưu tiên, những nhiệm vụ trọng tâm trên cơ sở đó có kế hoạch đầu tư tập trung, đồng bộ; tổ chức lại hệ thống sản xuất, dịch vụ phù hợp trong tiến trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá, vừa tạo ra bước "đột phá" mới, vừa rút ngắn khoảng cách chênh lệch giữa các vùng, các dân tộc trên phạm vi toàn tỉnh.

1. Vùng quốc lộ 6

Tiếp tục khẳng định  là vùng kinh tế động lực của toàn tỉnh. Hình thành rõ cơ cấu kinh tế: công – nông - lâm nghiệp - dịch vụ theo hướng công nghiệp hoá - hiện đại hoá. Tiếp tục củng cố, phát triển toàn diện 3 cụm công nghiệp và đô thị trọng điểm: Thị xã, Mai Sơn, Mộc Châu; trọng tâm là xây dựng vùng nguyên liệu gắn với công nghiệp chế biến nông - lâm sản, sản xuất vật liệu xây dựng với công nghệ trung bình tiên tiến, có mặt hiện đại, đủ sức cạnh tranh với thị trường trong nước và xuất khẩu. Triển khai thực hiện có hiệu quả dự án đa mục tiêu Mộc Châu, các dự án phát triển cây, con chủ lực gắn với công nghệ chế biến xuất khẩu; mở rộng và phát triển các đô thị mới (Chiềng Ngần - Thị xã, thị xã du lịch Mộc Châu, vùng Nà Sản, Cò Nòi - Mai Sơn); các dự án đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng, các trung tâm dịch vụ thương mại, trung tâm đào tạo nhân lực, trung tâm y tế chất lượng cao ...

2. Vùng sông Đà

Củng cố, điều chỉnh và triển khai thực hiện chiến lược ổn định dân cư, phát triển kinh tế - xã hội vùng hồ thuỷ điện Hoà Bình mà trọng tâm là chuyển mạnh sang sản xuất hàng hoá. Cùng với Trung ương chuẩn bị các điều kiện tốt nhất triển khai thực hiện dự án xây dựng thuỷ điện Sơn La với nhiệm vụ chủ yếu là: bố trí sắp xếp và thực hiện điều chỉnh dân cư nơi đi và nơi chuyển đến, xây dựng kết cấu hạ tầng, tổ chức lại hệ thống sản xuất và dịch vụ trước, trong và sau khi xây dựng thuỷ điện Sơn La.

Tiếp tục thực hiện sự phân công của cả nước về xây dựng hệ thống rừng phòng hộ đầu nguồn sông Đà; nâng độ che phủ vùng sông Đà lên 60-65%, nâng cao năng lực phòng hộ cho các công trình thuỷ điện  quốc gia và đồng bằng Bắc Bộ.

Địa bàn trọng điểm là huyện Phù Yên, Mường La, Bắc Yên, địa bàn đón dân tái định cư; hình thành chuỗi đô thị dọc sông Đà: Tạ Bú, cảng Tà Hộc, Tạ Khoa, Vạn Yên.

3. Vùng cao biên giới

Giải quyết về căn bản các vấn đề bức xúc về đời sống xã hội và sản xuất: chấm dứt tình trạng di dịch cư tự do, cơ bản hoàn thành công tác định canh định cư, xây dựng địa bàn sản xuất, đào tạo đội ngũ cán bộ cơ sở; thực hiện chuyển hướng mạnh sang sản xuất hàng hoá, bảo vệ rừng đầu nguồn, lương thực tại chỗ.

Tập trung dồn lực cho các địa bàn trọng điểm gồm: 13 xã khó khăn nhất (trong đó có 5 TTCX trọng điểm); huyện Sông Mã, 21 xã vùng cao biên giới với nội dung ưu tiên chủ yếu là: xây dựng địa bàn sản xuất (nương bậc thang, hệ thống dịch vụ, khuyến nông); kết cấu hạ tầng (đường ô tô đến trung tâm xã, nước sinh hoạt, điện, trường học, y tế, phát thanh truyền hình ...)

 Xây dựng thế trận an ninh-quốc phòng toàn dân, đảm bảo an ninh biên giới, trật tự an toàn xã hội, giữ vững chủ quyền biên giới quốc gia. 

 

12/04/2007

Phiên bản inPhiên bản in