Huyện Yên Châu nằm trong vùng động lực kinh tế của tỉnh; nằm đệm giữa 2 khu công nghiệp trọng điểm của tỉnh Sơn La là: Huyện Mai Sơn và Mộc Châu, có nhiều thuận lợi cho phát triển sản xuất nông sản phẩm hàng hoá nguyên liệu phục vụ công nghiệp chế biến của tỉnh. Đồng bào các dân tộc Yên Châu có truyền thống cách mạng trong kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ; có truyền thống cần cù, sáng tạo, đoàn kết thống nhất cao trong xây dựng và phát triển quê hương. Bản sắc văn hoá đồng bào các dân tộc phong phú và đa dạng, đang được giữ vững và phát triển.
Nhân dân các dân tộc Yên Châu và 2 xã Tú Nang, Chiềng Hặc được Đảng, Nhà nước phong tặng danh hiệu “Anh hùng lực lượng vũ trang” trong kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ; HTX Kim Chung xã Phiêng Khoài được phong tặng danh hiệu đơn vị “Anh hùng lao động”, 1 cá nhân được phong tặng danh hiệu “Anh hùng lao động trong thời kỳ đổi mới”.
Trong những năm qua, huyện Yên Châu có những bước phát triển KT - XH khá toàn diện. Nền kinh tế phát triển theo hướng CNH-HĐH, tốc độ tăng trưởng kinh tế đạt từ 13 %/năm trở lên, tỷ trọng sản xuất CN-TTCN và dịch vụ ngày càng cao. Các lĩnh vực xã hội từng bước được xã hội hoá, phát triển theo hướng tích cực và hiệu quả hơn. An ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội được giữ vững. Quan hệ hợp tác với các huyện giáp danh của nước Cộng hoà DCND Lào được tăng cường và mở rộng, góp phần giữ vững an ninh biên giới quốc gia trên địa bàn.
Tiềm năng, lợi thế của huyện những năm tiếp theo là nguồn nội lực lớn cho công cuộc phát triển KT - XH theo hướng CNH-HĐH; là cơ hội, điểm đến của các nhà đầu tư trong và ngoài tỉnh.
1. Điều kiện tự nhiên:
a. Vị trí địa lý: Trung tâm huyện lỵ cách thị xã Sơn La 64 km về hướng đông, cách Thủ đô Hà Nội 240 km theo hướng Tây Bắc, có toạ độ địa lý như sau:
- 1040 10’ - 1040 40’ kinh độ đông.
- 210 07’ - 210 14’ vĩ độ bắc.
- Phía đông giáp huyện Mộc Châu.
- Phía tây giáp huyện Mai Sơn.
- Phí bắc giáp huyện Bắc Yên.
- Phía nam giáp nước CHDCND Lào với 47 km đường Biên giới.
b. Đặc điểm địa hình:
Huyện Yên Châu nhìn chung có địa hình khá phức tạp, bị chia cắt bởi các dãy núi đá vôi cao. Do đó huyện được chia cắt thành 2 vùng rõ rệt, đó là:
- Vùng lòng chảo (dọc trục quốc lộ 6) gồm có 9 xã, thị trấn; có độ cao trung bình 400m so với mặt nước biển.
- Vùng cao Biên giới: Gồm 6 xã; có độ cao trung bình 900 - 1000m so với mặt nước biển.
c. Đặc điểm khí hậu: Huyện Yên Châu thuộc vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, nóng ẩm mưa nhiều. Do các yếu tố về vị trí địa lý, địa hình, độ cao đã phân chia huyện thành 2 vùng khí hậu khác nhau.
- Vùng lòng chảo (dọc quốc lộ 6): Khí hậu khô nóng, chịu ảnh hưởng của gió mùa tây nam. Có chế độ nhiệt, số ngày nắng cao thuận lợi cho phát triển cây lương thực, cây công nghiệp hàng năm, cây ăn quả nhiệt đới.
- Vùng cao, biên giới: Khí hậu mát mẻ, độ ẩm cao mang tính chất á nhiệt đới, thích nghi cho các loại cây trồng á nhiệt đới, chăn nuôi đại gia súc.
- Khí hậu phân chia thành 2 mùa rõ rệt: Mùa mưa từ tháng 5 - tháng 10; mùa khô từ tháng 11 - tháng 4 năm sau, mùa khô thường có rét đậm kéo dài, thường xảy ra sương muối ở vùng cao biên giới.
- Tổng số giờ nắng trong năm là 1.919 giờ/năm. Tổng lượng mưa trung bình 1.042 mm/năm, lượng mưa trung bình thấp nhất vào tháng 12 (7 mm/tháng), cao nhất vào tháng 7 (205 mm/tháng); tổng số ngày mưa trung bình là 133 ngày/năm.
- Nhiệt độ trung bình năm 23 0C, nhiệt độ cao nhất 40,5 0C, nhiệt độ thấp nhất 1,7 0C; biên độ chênh lệch nhiệt độ giữa ngày và đêm khá cao.
- Độ ẩm trung bình 78,2 %, độ ẩm thấp nhất 38,7 %.
- Về gió: Chịu ảnh hưởng của gió mùa đông bắc từ tháng 10 - tháng 2 năm sau. Vùng lòng chảo chịu ảnh hưởng của gió tây (gió Lào) khô nóng từ tháng 3 - tháng 5.
2. Tài nguyên thiên nhiên:
a. Tài nguyên đất:
Tổng diện tích tự nhiên của huyện Yên Châu là 85.775,0 ha, phần lớn là đất dốc. Gồm nhiều loại đất Feralit phát triển trên các loại đá cho nên phụ thuộc nhiều vào tính chất của đá mẹ. Theo kết quả điều tra, thổ nhưỡng huyện Yên Châu có 6 loại đất chính như sau:
- Đất thung lũng do sản phẩm dốc tụ: 4.100 ha, chiếm 49% tổng diện tích tự nhiên. Loại đất này tập trung chủ yếu ở vùng thấp dọc theo quốc lộ 6 giáp huyện Mai Sơn, thích hợp cho việc canh tác lúa, cây công nghiệp ngắn ngày.
- Đất Feralit màu vàng nhạt trên đá cát: 15.000 ha, chiếm 17,9 % tổng diện tích tự nhiên. Phân bố chủ yếu ở xã Chiềng On và một số khu vực đất dốc thuộc vùng biên giới. Loại đất này thuận lợi cho việc trồng cây ngắn ngày và khoanh nuôi bảo vệ rừng.
- Đất Feralit đỏ nâu trên đá biến chất: 20.500 ha, chiếm 24,4% tổng diện tích tự nhiên. Đây là nhóm đất khá phổ biến trong huyện được phân bố trên khắp địa bàn, loại đất này thường có tầng đất dày, độ phì cao, tỷ lệ mùn lớn, phù hợp với nhiều loại cây trồng tuỳ theo điều kiện địa hình, khí hậu từng địa bàn.
- Đất đỏ nâu trên đá vôi: 19.366 ha, chiếm 23,1% tổng diện tích tự nhiên. Loại đất này tập trung ở các xã vùng Biên giới giáp cao nguyên Mộc Châu thích hợp với phát triển cây công nghiệp dài ngày, khoanh nuôi bảo vệ rừng.
- Đất vàng nâu trên đá phù sa cổ: 7.600 ha, chiếm 9,1% tổng diện tích tự nhiên. Phân bố dọc theo các hệ thống sông suối lớn, thích hợp cho các loại cây lương thực, cây hàng năm.
- Đất Feralit nâu vàng trên đá mắc ma axit: 17.300 ha, chiếm 20,6% tổng diện tích tự nhiên. Phân bố rải rác trên toàn địa bàn huyện, tuỳ theo từng tiểu vùng khí hậu địa hình, thích hợp cho nhiều loại cây trồng.
b. Tài nguyên rừng:
Toàn huyện có 44.026,24 ha đất lâm nghiệp, chiếm 51,33 % so với diện tích đất tự nhiên, chiếm 67,42 % so với tổng diện tích nhóm đất nông nghiệp.
- Đất rừng sản xuất 4.166,18 ha, chiếm 9,46 % tổng diện tích đất lâm nghiệp, chủ yếu tại các xã Tú Nang, Chiềng Hặc, Viêng Lán. Trong đó:
+ Đất có rừng tự nhiên 3.257,53 ha, chiếm 78,19 % diện tích đất rừng sản xuất.
+ Đất có rừng trồng 908,65 ha, chiếm 21,81 % diện tích đất rừng sản xuất.
- Đất rừng phòng hộ 39.859,06 ha, chiếm 90,54 % tổng diện tích đất lâm nghiệp, tập trung chủ yếu tại các xã: Lóng Phiêng, Phiêng Khoài, Chiềng On, Chiềng Đông, Sặp Vạt; trong đó:
+ Đất có rừng tự nhiên 37.013,49 ha, chiếm 92,86 % diện tích đất phòng hộ.
+ Đất có rừng trồng 1.146,10 ha, chiếm 2,87 % diện tích đất phòng hộ.
+ Đất khoanh nuôi phục hồi rừng phòng hộ 1.700,47 ha, chiếm 4,27 % diện tích đất phòng hộ.
c. Tài nguyên khoáng sản:
Theo kết quả sơ bộ thăm dò, huyện Yên Châu có 2 mỏ than, 1 mỏ quặng Angtimon và một số mỏ sét, đá xây dựng lộ thiên; tuy nhiên hiện nay chưa được đưa vào khai thác sử dụng.
- Mỏ than Mường Lựm có trữ lượng khoảng 1.000 vạn tấn, có thể khai thác phục vụ cho ngành công nghiệp và sản xuất vi sinh.
- Mỏ than Tô Pang (xã Chiềng Pằn) có trữ lượng khoảng 100.000 tấn đang được khai thác, song sản lượng khai thác còn thấp.
- Mỏ Antimon tại Chiềng Tương có trữ lượng khoảng 20 ngàn tấn, chưa được đầu tư khai thác.
d. Tài nguyên nước:
Địa hình chia cắt mạnh tạo cho Yên Châu có một hệ thống suối, ao hồ khá phong phú với các hệ thống suối chính như: Suối Sặp, suối Vạt vùng lòng chảo (dọc quốc lộ 6), hệ thống suối Nậm Pàn ở vùng cao Biên giới, cụ thể bao gồm các hệ thống suối như sau:
- Hệ thống suối Vạt bắt nguồn từ dãy núi Khau Cạn xã Chiềng Đông và các nhánh suối khác nhập vào. Đây là nguồn nước chính cung cấp nước sinh hoạt và phục vụ sản xuất cho các xã dọc quốc lộ 6 từ Chiềng Đông đến Sặp Vạt.
- Hệ thống suối Sập chảy từ Mộc Châu về, đây là hệ thống suối nước quanh năm không bị cạn kiệt, do có nhiều con suối nhỏ bổ sung. Đây là nguồn nước chính cung cấp nước sinh hoạt và phục vụ sản xuất cho các xã dọc quốc lộ 6 từ Tú Nang đến Sặp Vạt. Tuy nhiên, nguồn nước của hệ thống suối này lớn song giá trị sử dụng tưới cho sản xuất nông nghiệp rất ít chủ yếu chỉ cung cấp cho sinh hoạt và phát triển nuôi trồng thuỷ sản.
- Hệ thống suối Nậm Pàn chảy theo hướng tây bắc từ Phiêng Khoài đến Yên Sơn, được bổ sung bởi các nhánh suối nhỏ của xã Chiềng On; đây là nguồn nước chính cung cấp nước sinh hoạt và phục vụ sản xuất cho 3 xã vùng cao Phiêng Khoài, Yên Sơn và Chiềng On.
- Hệ thống suối Mơ Tươi, Tô Buông chảy theo hướng Bắc đổ về suối Sập, đây là nguồn nước chính cung cấp nước sinh hoạt và phục vụ sản xuất cho 2 xã vùng cao Chiềng Tương và Lóng Phiêng.
- Hệ thống suối Luông chảy theo hướng Đông đổ về giáp đất Mộc Châu rồi chảy vào hang ngầm, đây là nguồn nước chính cung cấp nước sinh hoạt và phục vụ sản xuất cho xã vùng cao Mường Lựm.
3. Kết cấu hạ tầng:
a. Về cấp điện:
Toàn huyện có 15/15 xã, thị trấn được sử dụng điện lưới quốc gia. Số bản được sử dụng điện 136/177 bản, tiểu khu, chiếm 76,8 % số bản toàn huyện; tỷ lệ số hộ được sử dụng điện lưới quốc gia chiếm 87,2 % tổng số hộ toàn huyện.
b. Về cấp nước:
Tỷ lệ số hộ được sử dụng nước sinh hoạt hợp vệ sinh chiếm 70 % tổng số hộ toàn huyện. Địa bàn Thị trấn Yên Châu đã được sử dụng nước sạch bằng hệ thống nước tự chảy, được xử lý đạt tiêu chuẩn, với 1.000 hộ có hợp đồng sử dụng.
c. Về giao thông:
Huyện Yên Châu là một trong những huyện có hệ thống đường giao thông tương đối toàn diện từ huyện đến xã, bản và các tuyến đường phục vụ khu vực sản xuất chính.
- Toàn huyện có 100 % xã, thị trấn có đường ô tô đến trung tâm; có 176/177 bản, tiểu khu có đường ô tô đến trung tâm.
- Toàn huyện có 50 km đường quốc lộ đạt tiêu chuẩn đường cấp III đi qua; 87 km đường tỉnh lộ đạt tiêu chuẩn đường cấp V miền núi; 40 km đường huyện giải cấp phối; 422 km đường xã đạt tiêu chuẩn đường dân sinh liên xã, liên bản.
d. Thông tin liên lạc:
Hệ thống thông tiên liên lạc từ huyện đến các xã, thị trấn đảm bảo thông suốt, cơ bản đáp ứng nhiệm vụ chính trị của địa phương.
Toàn huyện có 1 Bưu điện trung tâm, 1 đài viễn thông và 1 Bưu cục đặt tại trung tâm xã Phiêng Khoài. Đến nay 13/15 xã, thị trấn có nhà Bưu điện văn hoá xã; có 1.500 thuê bao điện thoại cố định VNPT, bằng 23,3 máy/1000 dân.
4. Nguồn nhân lực:
Dân số trung bình toàn huyện năm 2006 là 64.166 người; tổng số lao động 27.071 người, chiếm 42,18 % dân số toàn huyện, lao động là cán bộ, CNVC là 2.487 người, chiếm 9,2 % lao động toàn huyện. Nhân khẩu khu vực nông thôn - nông nghiệp 58.211 người, chiếm 90,7 % dân số toàn huyện, lao động nông nghiệp 23.905 người, chiếm 88,3 % lao động toàn huyện.