- Về kinh tế:
Trong 5 năm, nền kinh tế của huyện đạt được tốc độ tăng trưởng khá, bình quân 5 năm (2001 - 2005) đạt 12,44 %/năm; chất lượng, hiệu quả tăng trưởng kinh tế năm sau cao hơn năm trước, tính bền vững trong phát triển kinh tế được nâng cao một bước; cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tích cực, tăng tỷ trọng các ngành CN - TTCN và dịch vụ, từng bước giảm tỷ trọng ngành Nông - Lâm nghiệp một cách hợp lý; các lĩnh vực sản xuất, dịch vụ, các vùng, các thành phần kinh tế có bước phát triển theo hướng tích cực và bền vững hơn. Thu chi ngân sách hàng năm đạt khá, năm sau cao hơn năm trước, thu ngân sách địa phương hàng năm đều vượt dự toán tỉnh giao. Huy động các nguồn lực cho đầu tư phát triển có trọng tâm, trọng điểm và có hiệu quả hơn; Kết cấu hạ tầng thiết yếu Nông nghiệp - Nông thôn được đầu tư toàn diện, đã và đang phát huy hiệu quả, góp phần thúc đẩy phát triển KT - XH khu vực Nông nghiệp - Nông thôn toàn diện, vững chắc. Công tác đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng thiết yếu, trong 5 năm qua đạt được những kết quả tích cực, góp phần đẩy mạnh phát triển KT - XH, AN - QP; Nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho đồng bào các dân tộc trong huyện, thu hẹp khoảng cách phát triển KT - XH giữa các vùng, các dân tộc trong huyện. Công tác tiếp nhận di dân tái định cư thuỷ điện Sơn La được các cấp, các ngành trong huyện quan tâm triển khai đồng bộ, chuẩn bị các điều kiện thiết yếu để đón nhận di dân tái định cư thuỷ điện Sơn La vào năm 2006 và các năm tiếp theo.
- Về văn hoá xã hội:
Sự nghiệp giáo dục đào tạo được tăng cường củng cố và phát triển toàn diện ở các cấp học, bậc học ở các xã, các vùng trong toàn huyện. Chất lượng giáo dục các bậc học từng bước được nâng cao; duy trì bền vững phổ cập giáo dục tiểu học, xoá mù chữ; Chương trình phổ cập THCS được quan tâm chỉ đạo đẩy nhanh tiến độ, hàng năm hoàn thành mục tiêu kế hoạch đề ra. Cơ sở vật chất trường học được đầu tư toàn diện, hoàn thành kiên cố hàng năm theo kế hoạch tỉnh giao, trong 5 năm học qua không có tình trạng phải học 3 ca. Công tác y tế, bảo vệ sức khoẻ nhân dân dược củng cố và tăng cường, các chương trình y tế quốc gia được triển khai lồng ghép có hiệu quả. Cơ sở vật chất ngành y tế được đầu tư khá toàn diện, cơ bản đáp ứng yêu cầu khám chữa bệnh cho nhân dân, đội ngũ cán bộ y tế được tăng cường bổ sung cả về số lượng và năng lực chuyên môn từ huyện đến cơ sở. Trong 5 năm qua trên địa bàn huyện không có dịch bệnh lớn xảy ra, các bệnh xã hội, bệnh truyền nhiễm được đẩy lùi. Sự nghiệp văn hoá, thể thao có nhiều khởi sắc mới, cuộc vận động toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá ở cơ sở được thực hiện có hiệu quả. Cơ sở vật chất phục vụ văn hoá, thể thao được đầu tư khá toàn diện, các hạng mục công trình đã và đang phát huy hiệu quả, thiết thực phục vụ đời sống tinh thần của nhân dân các dân tộc trong huyện. Trong 5 năm qua, đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân trong huyện có nhiều tiến bộ, thu hẹp khoảng cách đời sống vật chất, tinh thần giữa các vùng, các dân tộc trong huyện. Các chương trình xoá đói, giảm nghèo, xoá nhà tạm và các chương trình khác được lòng ghép triển khai thực hiện có trọng tâm, trọng điểm và đạt hiệu quả cao, góp phần thúc đẩy nền KT - XH của huyện phát triển toàn diện và bền vững.
- Về quốc phòng - an ninh:
Cùng với quá trình đẩy mạnh phát triển KT - XH, công tác QP - AN được tăng cường; an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội được giữ vững .Tăng cường củng cố tiềm lực quốc phòng - an ninh, đảm bảo an ninh Biên giới, giữ vững mối quan hệ hữu nghị, đoàn kết với các huyện giáp biên của nước CHDCND Lào.
2. Thực trạng phát triển các ngành kinh tế:
2.1. Các chỉ tiêu kinh tế tổng hợp:
- Tổng giá trị gia tăng (VA) năm 2005 ( theo giá so sánh 1994) ước đạt 208.110 triệu đồng, tăng 14,01 % so với năm 2004; Tốc độ tăng trưởng bình quân 5 năm (2001 - 2005) đạt 12,44 %/năm, mục tiêu Đại hội XVII là 10 %/năm, vượt 2,44 %/năm. Tốc độ tăng trưởng bình quân 2 năm (2004 -2005) ước đạt 13,97 %/năm, nghị quyết giữa nhiệm kỳ (năm 2003) là 15 %/năm, giảm 1,03 %/năm.
- Giá trị gia tăng (VA) năm 2005 (theo giá hiện hành) ước đạt 301.201 triệu đồng. Cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tích cực, cụ thể cơ cấu kinh tế năm 2005 như sau:
+ Nông - Lâm nghiệp: 57,55 %, so với mục tiêu Đại hội XVII là 60 %, giảm 2,45 %, nghị quyết giữa nhiệm kỳ là 54,5 %, tăng 3,05 %.
+ CN - XDCB: 18,08 %, so với mục tiêu Đại hội XVII là 17 %, tăng 1,08 %, nghị quyết giữa nhiệm kỳ là 20,4 %, giảm 2,32 %.
+ Thương mại - Dịch vụ: 24,37 %, so với mục tiêu Đại hội XVII là 23 %, tăng 1,37 %, so với nghị quyết giữa nhiệm kỳ là 25,1 %, giảm 0,73 %.
Trong 5 năm qua, cơ cấu kinh tế chuyển dịch còn chậm so với mục tiêu Đại hội XVII và nghị quyết giữa nhiệm kỳ. Cụ thể kinh tế 5 năm qua chỉ chuyển dịch 8,45 %, bình quân chuyển dịch được 1,69 %/năm.
- Giá trị gia tăng bình quân đầu người/năm đạt 4.734.000 đồng, tương đương 303,46 USD/người/năm. So với mục tiêu Đại hội XVII (300 USD), tăng 1,15 %, so với nghị quyết giữa nhiệm kỳ (316 USD), đạt 96,03 %.
- Sản lượng lương thực năm 2005 đạt 42.000 tấn, tăng 5 % so với mục tiêu Đại hội.
2.2. Sản xuất Nông - Lâm nghiệp:
Trong 5 năm, sản xuất Nông - Lâm nghiệp có sự chuyển biến tích cực theo hướng tập trung thâm canh, tăng vụ, tăng hiệu quả kinh tế, sắp xếp điều chỉnh quy mô sản xuất, địa bàn sản xuất, vùng sản xuất gắn với lợi thế cây, con của từng địa phương. Kết cấu hạ tầng Nông nghiệp - Nông thôn được đầu tư tương đối toàn diện, các công trình phục vụ sản xuất cơ bản đã và đang được kiên cố hoá, góp phần thúc đẩy sản xuất, chuyển dịch cơ cấu trong sản xuất Nông - Lâm nghiệp.
- Cơ cấu sản xuất Nông - Lâm nghiệp cơ bản đã hình thành theo hướng tích cực hơn. Giá trị sản xuất Nông - Lâm nghiệp năm 2005 (theo giá so sánh 1994) ước đạt 160.565 triệu đồng, tăng gấp 1,6 lần so với năm 2000, tốc độ tăng trưởng bình quân 5 năm (2001-2005) đạt 9,94 %/năm.
- Cơ cấu giá trị sản xuất Nông -Lâm nghiệp - Thuỷ sản chuyển dịch theo hướng tích cực: Nông nghiệp giảm từ 90,9 % năm 2000 xuống còn 84,1 % năm 2005; Thuỷ sản tăng từ 2,8 % năm 2000 lên 4,2 % năm 2005; Lâm nghiệp tăng từ 6,3 % năm 2000 lên 11,7 % năm 2005.
- Cơ cấu sản xuất giá trị Nông nghiệp đã hình thành rõ nét, ngành sản xuất chăn nuôi từng bước phát triển và hình thành ngành sản xuất chính; Cơ cấu giá trị sản xuất ngành trồng trọt giảm từ 86,8 % năm 2000 xuống còn 80,4 % năm 2005; Cơ cấu giá trị ngành chăn nuôi tăng từ 13,2 % năm 2000 lên 19,6 % năm 2005. Giá trị thu nhập trên 1 ha canh tác đất Nông nghiệp đạt khoảng 9,7 triệu đồng/ha (Mục tiêu nghị quyết giữa nhiệm kỳ là 12 -15 triệu đồng/ha). Kết quả thực hiện các chỉ tiêu chủ yếu như sau:
+ Sản xuất lương thực: Đảm bảo an ninh lương thực theo quan điểm sản xuất hàng hoá, giảm diện tích canh tác cây lương thực trên nương đất dốc; Đẩy mạnh thâm canh tăng vụ trên ruộng và sản xuất vụ thu - đông, tăng sản lượng lương thực hàng hoá trên địa bàn. Sản lượng lương thực năm 2005 đạt 42.000 tấn (Mục tiêu Đại hội 40.000 tấn), so với mục tiêu Đại hội tăng 5 % (tăng 2000 tấn), tăng bình quân 2,84 %/năm. Diện tích canh tác cây lương thực giảm từ 9.250 ha năm 2000 xuống còn 8.285 ha năm 2005, giảm 965 ha (Mục tiêu Đại hội giảm 13.000 ha).
+ Sản xuất cây công nghiêp: Đã hình thành cơ cấu cây công nghiệp chủ yếu phát triển theo hướng thâm canh tăng năng suất, chất lượng sản phẩm, mở rộng quy mô diện tích hợp lý, gắn với vùng nguyên liệu của tỉnh và thị trường đầu ra của sản phẩm. Diện tích từng cây chủ yếu như sau:
Cây chè: Ước trồng mới năm 2005 là 50 ha, đến hết năm 2005 diện tích 420 ha, so với nghị quyết hội nghị giữa nhiệm kỳ (750 ha) đạt 56 % và tăng 46,3 % so với năm 2000.
Cây Mía: với quan điểm là ổn định diện tích, thâm canh tăng năng suất, chất lượng sản phẩm. Diện tích hiện có ước khoảng 300 ha, so với mục tiêu Đại hội (350 ha) đạt 85,7 %.
Cây bông giống mới: Ước 600 ha, so với nghị quyết hội nghị giữa nhiệm kỳ (1000 ha) đạt 60 %.
Cây sắn nguyên liệu: Ước 700 ha, so với nghị quyết hội nghị giữa nhiệm kỳ ( 1.200 ha) đạt 58,3 %.
+ Chương trình phát triển cây ăn quả, trong 5 năm qua phát triển chưa tương xứng với tiềm năng, thế mạnh của địa phương; Chưa hình thành được địa bàn, vùng cây ăn quả lợi thế có hiệu quả kinh tế cao.
Tổng diện tích hiện có 1.860 ha, đạt 91,6 % so với mục tiêu Đại hội XVII, sản lượng quả các loại năm 2005 đạt 5.163 tấn, so với mục tiêu Đại hội đạt 66,2 %. Các loại cây ăn quả như: cây soài, cây chuối chưa phát huy được lợi thế đặc thù của huyện.
Chương trình cải tạo vườn tạp tiến độ chậm, hiệu quả thấp, trong thời gian vừa qua chưa xác định được nhóm cây ăn quả thế mạnh của huyện.
+ Chương trình phát triển chăn nuôi: đàn gia súc, gia cầm phát triển toàn diện, mô hình phát triển chăn nuôi hộ gia đình được mở rộng có hiệu quả, từng bước nâng cao quy mô đàn chăn nuôi hộ, ngành chăn nuôi đã được quan tâm chỉ đạo, đầu tư trở thành ngành sản xuất chính trong Nông nghiệp - Nông thôn.
Đàn trâu ước 13.080 con, so với nghị quyết hội nghị giữa nhiệm kỳ (13.000 con) đạt 100,6 %, tăng bình quân 6,3 %/năm.
Đàn bò ước 11.000 con, so với nghị quyết hội nghị giữa nhiệm kỳ (15.500 con) đạt 71 %, tăng bình quân 3,5 %/năm. Kế hoạch chăn nuôi bò thịt chất lượng cao không thực hiện được (Nghị quyết hội nghị giữa nhiệm kỳ là 3.000 con). Đàn bò địa phương phát triển khá (11.000/12.500 con), so với nghị quyết hội nghị giữa nhiệm kỳ đạt 88%, tăng 3,5 %/năm.
Đàn lợn trên 2 tháng tuổi ước 39.800 con, so với nghị quyết hội nghị giữa nhiệm kỳ (50.000 con) đạt 80 %, tăng 11, 25 %/năm.
Đàn dê ước 6.500 con, tăng mạnh trong 3 năm gần đây, tăng bình quân 29,2 %/năm.
Đàn gia cầm ước 303.000 con, tăng bình quân 8,8 %/năm.
Sản lượng thịt hơi xuất chuồng ước đạt 1830 tấn, so với năm 2000 tăng 1,4 lần, bình quân 5 năm tăng 6 %/năm.
- Diện tích nuôi trồng thuỷ sản năm 2005 là 314 ha, sản lượng cá thu hoạch ước đạt 628 tấn, so với nghị quyết hội nghị giữa nhiệm kỳ (1.200 tấn) đạt 52 %, tăng bình quân 6,4 %/năm.
+ Chương trình bảo vệ, phát triển vốn rừng: Công tác quản lý bảo vệ rừng thường xuyên được tăng cường, diện tích khoanh nuôi bảo vệ không ngừng được mở rộng. Công tác trồng rừng được quy hoạch tập trung có hiệu quả hơn, tình trạng phá rừng, cháy rừng cơ bản đã được ngăn chặn.
Trong 5 năm qua đã trồng mới được 1.901 ha, bình quân mỗi năm trồng được 380 ha, so với nghị quyết hội nghị giữa nhiệm kỳ (500 - 700 ha) đạt 76 %. Hoàn thành công tác giao đất Lâm nghiệp giao rừng tự nhiên, độ che phủ tăng từ 35 % năm 2000 lên 45 % năm 2005, đạt mục tiêu ĐH đề ra.
Chương trình phát triển cây tre măng Bát Độ, trên địa bàn đã đầu tư trồng thử nghiệm tại 3 xã: Sặp Vạt, Mường Lựm và Chiềng Tương, với tổng diện tích 26 ha. Qua quá trình theo dõi cây tre măng phù hợp với điều kiện các xã vùng cao Biên giới, riêng tại xã Sặp Vạt cây tre măng phát triển chậm, tỷ lệ cây sống thấp.
2.3. Sản xuất CN-TTCN và XDCB:
Giá trị sản xuất CN-TTCN và XDCB (Theo giá so sánh 1994) trong 5 năm qua tăng mạnh góp phần thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế trên địa bàn huyện, giá trị sản xuất CN -TTCN và XDCB năm 2005 đạt 84.510 triệu đồng, tăng gấp 2,1 lần so với năm 2000, tốc độ tăng trưởng bình quân 5 năm đạt 18 %/năm. Giá trị tăng thêm năm 2005 (Theo giá so sánh 1994) đạt 35.460 triệu đồng, tốc độ tăng bình quân 5 năm đạt 16 %/năm.
- Về sản xuất CN-TTCN: có bước phát triển theo hướng phát huy lợi thế của huyện, chủ yếu là khai thác, sản xuất vật liệu xây dựng và chế biến bảo quản Nông sản phẩm. TTCN và ngành nghề Nông thôn được hình thành và phát triển góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế và nâng cao hiệu quả sản xuất khu vực Nông nghiệp - Nông thôn. Giá trị sản xuất năm 2005 ( theo giá so sánh 1994) đạt 12.425 triệu đồng, tăng 1,96 lần so với năm 2000, tốc độ tăng trưởng bình quân 5 năm đạt 14,5 %/năm. Tuy nhiên, sản xuất CN-TTCN trong 5 năm qua chậm phát triển, chưa hình thành rõ nét các ngành nghề, sản phẩm chủ lực, mục tiêu phát triển gạch Tuynel và phát triển làng nghề TTCN Nông thôn chưa được triển khai thực hiện.
- Về XDCB: Trong 5 năm qua, công tác đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng thiết yếu đã đạt được kết quả tích cực, cơ bản các hạng mục công trình thiết yếu đã được đầu tư đạt và vượt mục tiêu Đại hội XVII huyện Đảng bộ; 5 năm qua đã huy động được trên 550 tỷ đồng cho đầu tư phát triển; Xây dựng được trên 180 công trình, giá trị năng lực mới tăng thêm trong 5 năm qua ước đạt 200 tỷ đồng. Các lĩnh vực, các địa bàn được quan tâm đầu tư có trọng tâm, trọng điểm, hiệu quả sau đầu tư ngày càng cao. Các công trình được đầu tư đã và đang phát huy hiệu quả. Đến nay có 100 % số bản có đường ô tô đến bản (Mục tiêu Đại hội 17 là 90 %); 100 % số xã có điện lưới quốc gia với trên 87 % số hộ được sử dụng điện (Mục tiêu Đại hội 17 là 70 %); 100 số xã có nhà văn hoá và bưu diện văn hoá xã; 100 % các xã, thị trấn có nhà lớp học 2 tầng và trạm xá xã bán kiên cố trở lên. Trụ sở làm việc của các xã, thị trấn cơ bản đã được kiên cố hoá.
Tuy nhiên, trong 5 năm qua công tác quản lý đầu tư và XDCB cũng còn nhiều tồn tại yếu kém, các công trình thi công tiến độ chậm, một số công trình chất lượng kém, hiệu quả đầu tư còn thấp. Công tác giám sát, quản lý kỹ thuật công trình XDCB chậm được nâng cao, ảnh hưởng đến tiến độ, chất lượng công trình.
2.4. Về Thương mại - Dịch vụ - du lịch:
Thương mại - Dịch vụ trong 5 năm qua phát triển tương đối toàn diện, đa dạng về loại hình, đáp ứng nhu cầu phục vụ sản xuất và đời sống nhân dân, các mặt hàng chính sách thiết yếu được cung ứng đảm bảo, giá cả thị trường tương đối ổn định, thị trường thương mại- dịch vụ không ngừng được mở rộng, nhất là khu vực Nông thôn; Hình thành và phát triển hệ thống chợ khu vực Thị trấn và các trung tâm xã, cụm xã, tạo ra mạng lưới buôn bán, trao đổi hàng hoá Nông sản phẩm khu vực Nông thôn, góp phần thúc đẩy sản xuất phát triển và chuyển dịch cơ cấu Nông nghiệp-Nông thôn. Tổng mức luân chuyển hàng hoá và dịch vụ xã hội năm 2005 đạt 135,5 tỷ đồng, tăng gấp 2,7 lần so với năm 2000, bình quân 5 năm (2001-2005) tăng 22 %/năm.
- Giá trị sản xuất thương mại - dịch vụ năm 2005 đạt 74.441 triệu đồng, tăng gấp 2,65 lần so với năm 2000, bình quân 5 năm tăng 21,5 %/năm.
- Giá trị tăng thêm ước đạt 50.620 triệu đồng, tốc độ tăng trưởng bình quân 5 năm đạt 17,1 %/năm.
2.5. Về Tài chính - Tín dụng:
- Công tác quản lý điều hành thu - chi ngân sách theo luật được triển khai thực hiện nghiêm túc. Thu ngân sách hàng năm, đặc biệt là thu ngân sách trên địa đều đạt và vượt kế hoạch đề ra. Thực hiện tốt tiết kiệm chi hàng năm để đầu tư cho phát triển hạ tầng cơ sở vật chất thiết yếu, hàng năm tiết kiệm chi bình quân được trên 200 triệu đồng. Năm 2005, tổng thu ngân sách ước đạt 52.361 triệu đồng, so với năm 2000 tăng gấp 1,97 lần, bình quân 5 năm tăng 14,5%/năm. Thu ngân sách trên địa bàn đạt 4.538 triệu đồng, so với năm 2000 tăng gấp 1,52 lần, bình quân 5 năm đạt 11%/năm (Mục tiêu Đại hội 17 là 6 - 7 %/năm). Tổng chi ngân sách năm 2005 đạt 52.361 triệu đồng, so với năm 2000 tăng gấp 1,98 lần, bình quân 5 năm tăng 14,6%/năm, tiết kiệm chi năm 2005 đạt 260 triệu đồng, trong đó: Ngân sách huyện 200 triệu đồng, ngân sách xã 60 triệu đồng.
- Hoạt động ngân hàng trong 5 năm qua đã bám sát nhiệm vụ chính trị của địa phương, đẩy mạnh huy động các nguồn vốn, đáp ứng nhu cầu cho vay phục vụ sản xuất và kinh doanh; các nguồn vốn vay ngân hàng chính sách đã thực sự phát huy hiệu quả, góp phần đẩy nhanh tiến độ xoá đói giảm nghèo, ổn định đời sống dân cư, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế của địa phương. Năm 2005, dự kiến dư nợ 65 tỷ đồng với 5.700 hộ vay, trong đó: dư nợ hộ nghèo 11,5 tỷ đồng với 2.083 hộ vay. Tổng dư nợ năm 2005 tăng 3,2 lần so với năm 2000, bình quân 5 năm (2001-2005) tăng 26,5%/năm (Tăng 19 tỷ đồng/năm).
2.6. Về phát triển các thành phần kinh tế:
Trong 5 năm qua các thành phần kinh tế trên địa bàn huyện đã hình thành rõ nét hơn, các thành phần kinh tế phát triển đa dạng hơn, đến nay đã có 4 thành phần kinh tế gồm: Kinh tế nhà nước (các chi nhánh), kinh tế tập thể, kinh tế tư nhân, kinh tế cá thể cùng phát triển trên địa bàn.
Trong 5 năm qua đã hình thành được 4 doanh nghiệp tư nhân (2 doanh nghiệp xây dựng, 2 doanh nghiệp thương mại) đã góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế của huyện và tăng thu ngân sách trên địa bàn.
- Kinh tế tập thể chậm được củng cố và phát triển, đến nay toàn huyện có 18 HTX hoạt động theo luật, trong đó 12 HTX Nông nghiệp và 6 HTX ngành nghề ra nhập liên minh HTX tỉnh, thành lập được 6 tổ HTX ngành nghề. Các HTX, tổ hợp tác sau chuyển đổi hoạt động sản xuất kinh doanh kém hiệu quả, chưa phát huy hết được tiềm năng của từng loại hình HTX, tổ hợp tác trên địa bàn hoạt động.
- Các thành phần kinh tế cá thể phát triển về cả số lượng và loại hình hoạt động, nhất là loại hình thương mại dịch vụ, đã góp phần thúc đẩy phát triển các thành phần kinh tế khác và tăng thu ngân sách trên địa bàn, tạo ra thị trường thu mua Nông sản phẩm hàng hoá cho nông dân.
2.7. Kết quả phát triển 2 vùng kinh tế của huyện:
- Vùng dọc quốc lộ 6: Trong 5 năm qua đã tập trung cao cho công tác chỉ đạo thâm canh, tăng vụ, tăng hệ số sử dụng đất ruộng, giảm diện tích canh tác cây trồng trên nương đất dốc. Chuyển dịch cơ cấu sản xuất theo quan điểm sản xuất hàng hoá, nâng cao thu nhập trên 1 ha đất canh tác Nông nghiệp, nâng cao tỷ trọng giá trị sản xuất hàng hoá từ 38 % năm 2000 lên 57 % năm 2005; Giá trị gia tăng bình quân đầu người đạt 4.883 nghìn đồng/năm, tương đương 313 USD/năm, so với mục tiêu Đại hội (300 USD) tăng 4,3 %.
- Vùng cao Biên giới: Tập trung thâm canh cây ngô, phát triển cây chè và chăn nuôi, đưa chăn nuôi trở thành ngành sản xuất chính. Cơ bản đã hình thành cây, con chủ yếu, phát huy lợi thế của vùng, tạo ra sản phẩm theo quan điểm sản xuất hàng hoá, nâng cao thu nhập cho nhân dân. Giá trị gia tăng bình quân đầu người đạt 4.308 nghìn đồng/năm, tương đương 289 USD/năm, so với mục tiêu Đại hội (280 USD/năm) tăng 3,2 %.
3. Về văn hoá - xã hội:
3.1. Sự nghiệp giáo dục - đào tạo:
Sự nghiệp giáo dục - đào tạo tiếp tục được củng cố và phát triển toàn diện ở các cấp học, bậc học ở các xã, các vùng trong toàn huyện. Quy mô giáo dục được mở rộng, mạng lưới trường lớp ổn định và phát triển đều ở tất cả các xã, bản. Năm học 2005 - 2006, toàn huyện có 61 đơn vị trường học, trong đó có 16 trường MN, 24 trường TH, 18 trường THCS, 02 trường THPT, 01 Trung tâm GDTX. Đến nay 100 % số bản có lớp cắm bản, không còn bản trắng về giáo dục. Nhiều xã đã hình thành các điểm bán trú dân nuôi để tạo điều kiện cho con em đến trường học tập. Tỷ lệ huy động và duy trì sỹ số học sinh hàng năm đều đạt từ 97 - 99 %. Chất lượng dạy và học trong các cơ sở giáo dục có nhiều chuyển biến tích cực; Tỷ lệ chuyển lớp, tỷ lệ hoàn thành chương trình tiểu học, được công nhận tốt nghiệp THCS hàng năm đều đạt từ 96 - 97 % (bình quân toàn huyện); Trường THPT Yên Châu, trường THPT Phiêng Khoài, trường THCS Thị trấn, trường PTDT Nội trú và nhiều cơ sở giáo dục khác đã được quan tâm đầu tư xây dựng cơ sở vật chất, đầu tư trang thiết bị dạy học phục vụ giảng dạy - học tập theo yêu cầu cải cách, đổi mới nội dung chương trình và phương pháp dạy học; Đã xây dựng được 01 đơn vị trường học đạt chuẩn quốc gia năm 2006, chuẩn bị xây dựng 03 trường vào năm 2007. Công tác bổ túc văn hoá được duy trì và đi vào nề nếp, công tác củng cố phổ cập giáo dục tiểu học - xoá mù chữ được duy trì vững chắc ở 15/15 xã, thị trấn, đã có 12/15 xã hoàn thành phổ cập THCS; Công tác đào tạo, bồi dưỡng giáo viên để đạt chuẩn và vượt chuẩn cho đội ngũ giáo viên được tăng cường, 96 % giáo viên được kiểm tra đánh giá chất lượng đạt yêu cầu trở lên, trong đó: khá, giỏi chiếm 50 % trở lên, 100 % số trường trung tâm có lớp học 2 tầng bằng vốn dự án và vốn chương trình kiên cố hoá, có điểm bán trú cho học sinh và nhà ở cho tập thể cán bộ giáo viên. Số phòng học tạm trong toàn huyện: 223 phòng chiếm gần 28 %, tập trung chủ yếu ở cơ sở bản. Công tác quản lý Nhà nước về giáo dục - đào tạo có chuyển biến tích cực. Việc thanh tra, kiểm tra được tiến hành thường xuyên và nề nếp, ngăn chặn kịp thời các tiêu cực trong giáo dục. Việc bồi dưỡng nâng cao chất lượng nguồn nhân lực đã được quan tâm chăm lo. Trong 5 năm đã có hàng trăm người được tuyển sinh vào các trường đào tạo - dạy nghề, hàng nghìn lao động được chuyển giao kỹ thuật và công nghệ mới trong sản xuất, hàng trăm cán bộ được đào tạo, bồi dưỡng lý luận, quản lý kinh tế, quản lý Nhà nước, đặc biệt đã trú trọng đào tạo bồi dưỡng đội ngũ cán bộ cơ sở, mặt bằng dân trí từng bước được nâng lên, góp phần thúc đẩy quá trình phát triển KT - XH của địa phương.
3.2. Về lĩnh vực khoa học công nghệ:
Trong 5 năm qua, đã có nhiều chuyển biến tích cực, tập trung chủ yếu ở các lĩnh vực áp dụng tiến bộ khoa học công nghệ phục vụ cho: chuyển dịch cơ cấu kinh tế Nông nghiệp - phát triển Nông thôn, công tác quản lý, lãnh đạo, giảng dạy, học tập và sản xuất kinh doanh.
Đã lựa chọn, ứng dụng tiến bộ trong khoa học công nghệ về giống trong sản xuất, thâm canh cây trồng và phát triển chăn nuôi; Làm tốt công tác tập huấn, chuyển giao công nghệ, khuyến nông, khuyến lâm và các mô hình trình diễn kỹ thuật, nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả trong sản xuất thâm canh lúa nước, ngô, một số loại cây công nghiệp như: bông, chè, đậu tương, lạc.v.v. và trong chăn nuôi: trâu, bò, dê, lợn và gia cầm đã đạt hiệu quả kinh tế khá, năng suất thâm canh lúa ruộng đạt 80 tạ/ha, cá biệt có hộ gia đình đạt 120 tạ/ha, năng suất ngô lai giống mới bình quân đạt 65 tạ/ha.
Toàn huyện có 1 trung tâm khuyến nông, các xã đều có khuyến nông hoạt động đều và tích cực trong áp dụng khoa học kỹ thuật và chuyển giao công nghệ trong sản xuất phát triển kinh tế.
Từng bước thực hiện có hiệu quả ứng dụng tin học trên các lĩnh vực: lãnh đạo, phục vụ lãnh đạo, thông tin; Trong quản lý Nhà nước về các lĩnh vực: kinh doanh, phục vụ, ngân hàng, quản lý ngân sách, trong xây dựng, học tập, trong công tác xây dựng Đảng, củng cố chính quyền, MTTQ các đoàn thể và công tác quốc phòng - an ninh.
3.3. Công tác y tế, chăm sóc sức khoẻ nhân dân:
Công tác y tế, chăm sóc sức khoẻ nhân dân được tăng cường, hệ thống y tế từ huyện tới cơ sở được củng cố. Các chương trình y tế quốc gia, chương trình vệ sinh môi trường, vệ sinh an toàn thực phẩm được triển khai tích cực và đồng bộ, có hiệu quả. Thực hiện công tác tiêm chủng hàng năm đều đạt từ 98 % trở lên, về cơ bản đã loại trừ và khống chế được các loại bệnh: lao, sốt rét, bệnh phong và một số loại bệnh khác. Trong 5 năm qua, toàn huyện không xảy ra dịch bệnh lớn. Cơ sở vật chất khám, chữa bệnh từ Bệnh viện đa khoa huyện đến trạm xá xã, phòng khám khu vực từng bước được xây dựng và nâng cấp. Đội ngũ cán bộ y tế được tăng cường, đáp ứng nhu cầu khám chữa bệnh cho nhân dân: tinh thần, thái độ, ý thức trách nhiệm, chất lượng chuyên môn của đội ngũ thầy thuốc đã có chuyển biến. Đến năm 2005, toàn huyện có 100 % số xã, thị trấn có trạm xá, 1 bệnh viện trung tâm, 1 trạm khám khu vực, trong đó: có 7/15 trạm xá đã có Bác sỹ, 100 % số bản có tủ thuốc, trong đó 95 % số bản có y tá bản, 78 % số hộ được dùng nước sạch, 80 % số hộ có công trình vệ sinh. Công tác chỉ đạo xây dựng các xã đạt chuẩn quốc gia về y tế đã đạt được kết quả bước đầu (đạt 01/15 trạm y tế xã).
Chương trình dân số - KHHGĐ và trẻ em được quan tâm toàn diện, các dịch vụ sinh sản KHHGĐ, truyền thông, tư vấn về DS-KHHGĐ được tăng cường xuống các cơ sở. Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên là 1,25%, chương trình phòng chống trẻ suy dinh dưỡng đạt kết quả tốt. Tính đến năm 2005, tỷ lệ trẻ em suy dinh dưỡng còn 29%, giảm 6% so với đầu nhiệm kỳ, các hoạt động chăm sóc, bảo vệ trẻ em đã có nhiều chuyển biến tốt. Hàng năm đều xây dựng kế hoạch tổ chức hoạt động tuyên truyền giáo dục, vui chơi, tặng quà cho các cháu thiếu niên nhi đồng trong các dịp lễ, tết, hè. Các hoạt động khuyến học, trợ giúp trẻ em tàn tật có hoàn cảnh khó khăn được tổ chức thường xuyên và đi vào nề nếp và có tác dụng tốt.
3.4. Sự nghiệp văn hoá - thông tin - thể thao:
Sự nghiệp văn hoá thông tin- thể thao, trong 5 năm có nhiều tiến bộ. Các hoạt động văn hoá, văn nghệ, thể dục thể thao, thông tin tuyên truyền, truyền thanh truyền hình... đã được triển khai đồng bộ và có nhiều khởi sắc. Việc quán triệt và tổ chức thực hiện cuộc vận động "Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá" gắn với việc thực hiện hương ước, quy ước được triển khai có hiệu quả ở 100% cơ sở trong toàn huyện. Đến năm 2005 đã có 7367 hộ đạt gia đình văn hoá, chiếm 58% số hộ toàn huyện, 39 bản, tiểu khu, 24 cơ quan đơn vị đạt tiêu chuẩn văn hoá, 3/15 xã, thị trấn đạt chuẩn văn hoá. Duy trì và hoạt động có hiệu quả 15 nhà văn hoá xã, thị trấn, 20 nhà văn hoá bản, tiểu khu, 13 điểm bưu điện văn hoá xã. Hoàn thành thêm 12 nhà văn hoá bản thuộc chương trình 3665, 177 của tỉnh hỗ trợ các bản đặc biệt khó khăn.
Hoạt động thông tin tuyên truyền được chú trọng; đã chủ động tích cực tuyên truyền các nghị quyết, chỉ thị của Đảng, chính sách pháp luật của nhà nước, giới thiệu các hoạt động chính trị, kinh tế xã hội của địa phương tới đông đảo nhân dân các dân tộc trong huyện; đã sửa chữa và nâng cấp được 5 trạm phát lại truyền hình, lắp mới được 45 cụm DTH, 5 trạm truyền thành xã, 40 cụm truyền thanh bản, hoạt động đều, toàn huyện có 80% hộ được xem truyền hình, 95% số hộ được nghe Đài tiếng nói Việt Nam. Tổ chức được hàng nghìn buổi chiếu phim; phục vụ hàng chục vạn người xem. Các hoạt động văn hoá, văn nghệ tiếp tục được duy trì và phát triển từ huyện đến cơ sở với 111 đội văn nghệ nông thôn, 18 đội văn nghệ khối cơ quan, trường học; một chi hội văn học nghệ thuật hoạt động đều.
Hoạt động TDTT có bước phát triển, phong trào "toàn dân rèn luyện thân thể theo gương Bác Hồ vĩ đại" được duy trì và phát triển rộng khắp các xã trong huyện; từ phong trào thể dục dưỡng sinh, phong trào thể dục buổi sáng... đến các phong trào bóng chuyền, bóng đá, cầu lông đều được các tầng lớp nhân dân hưởng ứng. Toàn huyện hiện có: 24 đội bóng chuyền, 18 đội bóng đá, 3 Câu lạc bộ cầu lông và 150 vận động viên các lứa tuổi, 1 Câu lạc bộ dưỡng sinh các cụ cao tuổi hoạt động thường xuyên, tạo thành phong trào rèn luyện thân thể hàng ngày sôi động. Hàng năm, đã tổ chức các giải thi đấu thể thao, hội diễn văn nghệ của huyện và ngành, đã động viên khích lệ được phong trào và lựa chọn những hạt nhân điển hình tiên tiến, xuất sắc tham gia dự thi cấp tỉnh, cấp trung ương đạt thành tích xuất sắc.
3.5. Thực hiện chính sách xã hội và chính sách dân tộc:
Để đảm bảo việc phát triển bền vững, thực hiện nghị quyết Đại hội Đảng bộ huyện lần thứ XVII trong 5 năm (2001 - 2005) Đảng bộ huyện hết sức coi trọng, việc lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện các vấn đề thuộc lĩnh vực chính sách xã hội và chính sách dân tộc của Đảng. Các chương trình xoá đói, giảm nghèo, xoá nhà tạm, làm nhà tình nghĩa, thực hiện chế độ chính sách với các gia đình thương binh, liệt sĩ, người có công và người có hoàn cảnh đặt biệt khó khăn, những trường hợp rủi ro khác... được thực hiện thường xuyên; tạo thành một phong trào sâu rộng có tác dụng giáo dục trong cộng đồng các dân tộc.
- Đời sống vật chất và tinh thần của đại bộ phận nhân dân trong huyện được cải thiện rõ rệt, số hộ có nhà ở lâu bền và kiên cố chiếm: 40%; số hộ ngói hoá 95% đạt chỉ tiêu đại hội. Trong 5 năm, đã xoá được 1120 nhà tạm, trong đó có 114 nhà đại đoàn kết; đưa tỷ lệ số hộ còn ở nhà tạm từ 22% năm 2000 xuống còn 9,3% năm 2005.
- Thực hiện chính sách dân tộc của Đảng, đã làm tốt việc thực hiện chính sách hỗ trợ vùng đặc biệt khó khăn của Nhà nước, các nguồn vốn chương trình, dự án, vốn chương trình 3665, 177 của tỉnh, đến nay 8 xã thuộc chương trình 135, đời sống của đại đa số nhân dân các dân tộc đã có chuyển biến tích cực.
+ Số hộ có mức sống khá trở lên 52%.
+ Số hộ có mức sống trung bình 39,5%.
+ Tỷ lệ hộ nghèo (Theo tiêu chí cũ) còn 8,5%.
Cơ bản xoá hết số hộ đói kinh niên. Thực hiện 10 mục tiêu của vùng đặc biệt khó khăn đạt nhiều kết quả tốt, toàn huyện phấn đấu thoát khỏi huyện khó khăn vào tháng 9 năm 2005.
- Phong trào xã hội hoá trên các lĩnh vực ngày càng được mở rộng và đi vào chiều sâu, trở thành nét đẹp truyền thống trong cộng đồng các dân tộc; Nhân dân các dân tộc trong huyện tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, chính sách pháp luật của nhà nước. Một số vấn đề bức xúc xã hội trên địa bàn được quan tâm giải quyết và đạt được kết quả tích cực. Tình hình di dịch cư tự do, tranh chấp đất đai, tái trồng thuốc phiện, vượt biên trái phép đã được ngăn chặn có hiệu quả.