Thị xã Sơn La được thành lập từ tháng 10 năm 1961, nằm trong vùng tam giác kinh tế trọng điểm của tỉnh, có các trung tâm y tế, văn hoá, khoa học kỹ thuật của Trung ương, của tỉnh đóng trên địa bàn; nằm giữa hai khu công nghiệp quan trọng của tỉnh là khu công nghiệp Mai Sơn và khu công nghiệp điện Mường La, đã và đang được quan tâm đầu tư của Trung ương, của Tỉnh và các ngành; có lợi thế và điều kiện giao lưu phát triển kinh tế văn hoá xã hội với các huyện, trung ương, các tỉnh bạn và nước bạn Lào. Đảng bộ và nhân dân các dân tộc Thị xã luôn phát huy truyền thống anh hùng, truyền thống đoàn kết và lao động cần cù sáng tạo để xây dựng quê hương giàu mạnh. Năm 2005 Thị xã Sơn La được Bộ xây dựng công nhận là đô thị loại III, phấn đấu đến năm 2008 được công nhận là thành phố trực thuộc Tỉnh.
Sau 20 năm đổi mới, hệ thống thể chế về kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa được hình thành một bước, nhiều cơ chế mới ban hành đã có tác động tích cực đối với phát triển kinh tế - xã hội. Môi trường chính trị ổn định của đất nước nói chung, của Tỉnh Sơn La nói riêng nói riêng là nền tảng vững chắc tạo môi trường thuận lợi cho phát triển kinh tế - xã hội.
Điều kiện tự nhiên
Vị trí địa lý, địa hình
Thị xã Sơn La có tổng diện tích tự nhiên là 33.005 ha, chiếm 2,32% diện tích của toàn tỉnh. Toạ độ địa lý: 21o15' - 21o31' vĩ bắc, 103o45' - 104o0 ' kinh đông.
Phía Bắc giáp huyện Mường La, phía Đông giáp huyện Mai Sơn, phía tây giáp huyện Thuận Châu.
Thị xã Sơn La cách Thủ đô Hà Nội 320 km về phía Tây Bắc, có tuyến Quốc lộ 6 chạy qua, là mạch máu giao thông nối các tỉnh đồng bằng Bắc bộ với các tỉnh Hoà Bình, Sơn La, Điện Biên và Lai Châu. Thị xã Sơn La cách cảng hàng không Nà Sản 15 km; cách công trình Thuỷ điện Sơn La hơn 30 km. Chiều dài trung bình 24 km, chiều rộng trung bình 14 km, nằm trên Cao nguyên Sơn La, độ cao trung bình 700 - 800 m so với mặt nước biển. Địa hình chia cắt sâu và mạnh, chủ yếu là đồi núi, giao thông đi lại tới các bản thuộc các xã còn khó khăn.
Khí hậu, thuỷ văn.
Khí hậu mang tính chất nhiệt đới gió mùa nóng ẩm, mưa nhiều, nhiệt độ tối cao trung bình là 30oC.
Khí hậu được chia làm 2 mùa rõ rệt, mùa mưa từ tháng 4 đến tháng 9, mùa khô từ tháng 10 đến tháng 3 năm sau. Lượng mưa cao nhất 83,5 mm, thấp nhất 20 mm, lượng mưa trung bình cả năm 1.346 mm. Lượng mưa chủ yếu tập trung vào 3 tháng (6, 7, 8) chiếm 85% lượng mưa cả năm. Độ ẩm trung bình 85%.
Trong những năm gần đây nhiệt độ trung bình năm có xu hướng tăng, độ ẩm giảm, song nhìn chung khí hậu và thời tiết thuận lợi cho sản xuất.
Về Thuỷ văn: Thị xã Sơn La có 25 km suối Nậm La, mặt suối thấp hơn mặt đất canh tác là vấn đề khó khăn cho việc cung cấp nước tưới tiêu, vì thế trong những năm qua, thị xã đã đầu tư xây dựng hệ thống đập ngăn nước và hệ thống mương phai để dẫn nước phục vụ công tác tưới tiêu.
Tài nguyên thiên nhiên.
Tài nguyên đất:
Thị xã Sơn La có tổng diện tích đất tự nhiên là 33.005 ha, trong đó: đất nông nghiệp là 6.892 ha, đất lâm nghiệp 14.490 ha, đất chuyên dùng là 956 ha, đất ở dân cư nông thôn là 272 ha, đất đô thị là 221 ha và đất chưa sử dụng là 10.174 ha.
Đất đai tương đối phì nhiêu, mầu mỡ, tầng canh tác dầy. Tuy nhiên đất sản xuất bị chia cắt, manh mún, không thuận lợi cho áp dụng cơ giới hoá.
Tài nguyên rừng:
Diện tích rừng hiện còn trên 14 ha (trong đó rừng trồng trên 3.000 ha). Độ che phủ (năm 2006) đạt 41,5%.
Tài nguyên khoáng sản:
Khoáng sản nhiều nhất là đá vôi và sét, phân bố rộng, với trữ lượng lớn, đang được khai thác để sản xuất vật liệu xây dựng như gạch, đá, xi măng. Mỏ sét xi măng ở Chiềng Sinh với trữ lượng trên 7600 ngàn tấn.
Có mỏ than mỡ ở bản Bó Cằm - Hua La với trữ lượng 50 - 70 vạn tấn.
Ngoài ra còn có vàng sa khoáng phân mố ở suối Nậm La, vùng xã Hua La.
Nguồn nước:
Thị xã nằm trên vùng Cao nguyên đá vôi có nhiều hang cát tơ trong đó hang Tát Toòng là nguồn cung cấp nước sinh hoạt chính cho nhân dân sống trong đô thị.
Có mỏ suối nước nóng ở bản Mòng xã Hua La trữ lượng 12 l/s được nhân dân khai thác kinh doanh tắm nước nóng.
Kết cấu hạ tầng
Hệ thống cung cấp điện.
Nguồn cung cấp điện cho Thị xã Sơn La dồi dào, ngoài việc đã hoà mạng với điện lưới Quốc gia và Thuỷ điện Hoà Bình, Thị xã Sơn La còn được cung cấp điện bởi nhà máy thuỷ điện Chiềng Ngàm (Thuận Châu) công suất 35 kw. Đặc biệt sau khi Thuỷ điện Sơn La đi vào vận hành khai thác thì hệ thống cung cấp điện của Sơn La lại càng trở nên dồi dào hơn. Đến năm 2006, 100% xã, phường thuộc thị xã đã có điện lưới Quốc gia, tỷ lệ số hộ được sử dụng điện là 95%.
Cấp nước.
Để phục vụ cho sự nghiệp đổi mới theo tiêu chí đô thị loại III, Thị xã đã được đầu tư xây dựng nhà máy cấp nước với công suất 15.000 m3/ngày đêm, bằng công nghệ sàng lọc của hãng Ray Mông - Cộng hoà Pháp. Đây là điều kiện thuận lợi cho phục vụ đời sống và sản xuất công nghiệp - TTCN của Thị xã. Đến năm 2006 tỷ lệ số hộ được sử dụng nước sạch là 94%.
Giao thông.
Thị xã Sơn La nằm trên trục đường Quốc lộ 6 nối Thủ đô Hà Nội và Thành phố Điện Biên Phủ sang Bắc Lào. Có đường Tỉnh lộ 106 nối Thị xã với cảng Tạ Bú sau này là điểm đến của tuyến đường sông Tạ Bú - Hoà Bình; Thị xã Sơn La cách cảng hàng không Nà Sản 15 km, là cảng hàng không đường bay Sơn La - Hà Nội... đó là những điều kiện thuận lợi cho phát triển giao lưu hàng hoá và đi lại giữa Thị xã Sơn La với các tỉnh miền xuôi và Bắc Lào. Ngoài ra các tuyến đường xuống các xã và vùng nội Thị đã được nâng tổng số km đường giao thông là 120 km cấp theo tiêu chuẩn đô thị loại III đảm bảo cho giao lưu đi lại thuận tiện. Mật độ đường giao thông nội Thị đạt 0,37 km/1 km2. Toàn bộ tuyến đường nội Thị đã được đưa vào cấp hạng và trải nhựa át phan.
Thông tin liên lạc.
Hiện nay mạng lưới thông tin liên lạc của Thị xã phát triển nhanh. Các trung tâm xã đều đã có điện thoại. Trung tâm Thị xã và vùng công nghiệp xã Chiềng Sinh đã phủ sóng điện thoại di động. Đã có trạm chuyển tiếp vi ba với cả nước và Quốc tế. Mạng thông tin Quốc tế Internet cũng đã bước đầu phát triển mạnh. Đến năm 2006 tỷ lệ số dân được xem truyền hình là 100%.
Về giáo dục, y tế.
Chất lượng giáo dục toàn diện, công tác củng cố duy trì mạng lưới trường lớp, huy động sĩ số học sinh, dầu tư nâng cấp cơ sở vật chất, trang thiết bị trường học... ngày càng được nâng lên, đáp ứng kịp thời yêu cầu giáo dục đặt ra. Đến năm 2002, 100% các xã, phường có trường học từ Mầm non đến THCS đáp ứng được nhu cầu học tập của con em các dân tộc Thị xã. năm 1997 Thị xã Sơn La đạt chuẩn Quốc gia về phổ cập giáo dục tiểu học - XMC, năm 2003 đạt chuẩn quốc gia về phổ cập giáo dục THCS và đang tiến hành công tác phổ cập bậc trung học. Đến tháng 6 năm 2006, Thị xã Sơn La đã có 7 đơn vị trường học đạt chuẩn quốc gia.
Mạng lưới y tế phát triển đáp ứng được yêu cầu phục vụ khám chữa bệnh cho nhân dân các xã, phường. Đến năm 2006, 100% số xã có trạm y tế (trong đó 67% trạm y tế xã, phường có bác sỹ), có 3 trạm y tế đạt chuẩn quốc gia.
Tiềm năng về du lịch.
Thị xã Sơn La có tiềm năng phát triển du lịch theo hướng du lịch sinh thái, thăm quan di tích lịch sử, danh lam thắng cảnh và văn hoá dân tộc.
Ngoài nhà tù Sơn La với nhiều thế hệ các đồng chí cán bộ cách mạng (sau này nhiều đồng chí đã trở thành những cán bộ cấp cao của Đảng và Nhà nước) bị giam cầm và 2 di tích lịch sử văn hoá đã được Bộ văn hoá thông tin công nhận là hang Tát Tòng (Xã Chiềng An) và Văn bia Quế Lâm Ngự Chế (1.440) phường Chiềng Lề, Thị xã Sơn La còn có mó nước nóng bản Mòng và các nét văn hoá, các món ăn ẩm thực của các dân tộc Sơn La; đặc biệt Thị xã Sơn La gần nhà máy Thuỷ điện Sơn La... đó là những tiềm năng lớn cho phát triển du lịch của Thị xã.
Nguồn nhân lực.
Toàn thị xã có 12 xã, phường; đến năm 2006, dân số của Thị xã Sơn La có trên 77 ngàn người, trong đó lao động trong độ tuổi chiếm gần 60%, dân số đô thị chiếm 63,6%; gồm 12 dân tộc anh em: Kinh, Thái, Mông, Sinh Mun, Mường, Dao, Khơ Mú, La Ha, Kháng, Tày, Hoa, Lào cùng sinh sống; năm 2006 Thị xã có 88% hộ gia đình, 62% tổ, bản, tiểu khu đạt tiêu chuẩn văn hoá.