English     Trang chủ    Giới thiệu     Sơ đồ trang    Góp ý   

Định hướng chính phát triển kinh tế - xã hội đến năm 2010

Phát triển kinh tế thương mại, dịch vụ và du lịch

 Phát triển các loại hình dịch vụ, mở rộng và nâng cao hiệu quả thương mại, dịch vụ, hoàn thành đưa vào sử dụng trung tâm triển lãm kinh tế - kỹ thuật và xúc tiến thương mại, xây dựng đồng bộ hệ thống chợ, đồng thời mở rộng, nâng cấp hệ thống dịch vụ cho sản xuất và đời sống nhân dân, đặc biệt là đáp ứng nhu cầu dịch vụ thương mại cho công trường Thuỷ điện Sơn La. Tăng cường liên kết kinh tế giữa nội thị và nông thôn, giữa Thị xã với các trung tâm kinh tế của Tỉnh, góp phần tạo việc làm và phân công lại lao động, nâng cao chất lượng cuộc sống dân cư. Đảm bảo lưu thông hàng hoá thông suốt từ nội thị tới các vùng nông thôn, thực hiện tốt các mặt hàng chính sách xã hội, mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm cho người nông dân theo hình thức liên kết kinh tế "4 nhà". Tăng cường công tác quản lý thị trường, đấu tranh chống buôn lậu, gian lận thương mại, đảm bảo quyền lợi cho người tiêu dùng...



Tiếp tục củng cố và phối hợp với các ngành chức năng nâng cao chất lượng và mở rộng hoạt động của các loại hình dịch vụ như vận tải, bưu chính viễn thông, ngân hàng, tin học, khuyến nông, khuyến lâm, khuyến công, văn hoá, giáo dục, y tế... tới các địa bàn dân cư khu đô thị mới.

 

Phát triển kinh tế du lịch, hệ thống nhà hàng, khách sạn, các khu trung cư, trung tâm thương mại, các địa điểm vui chơi giải trí công cộng, hình thành rõ nét các tua du lịch Thị xã - công trường Thuỷ điện Sơn La - Lào Cai - thành phố Điện Biên.

 

Tạo mọi điều kiện thuận lợi và thực hiện tốt chính sách thu hút đầu tư để nâng cao hiệu quả các dự án trọng điểm về phát triển du lịch, dịch vụ.

 

Nhịp độ tăng trưởng bình quân của ngành thương mại dịch vụ từ năm 2006 - 2010 phấn đấu đạt 19 - 20% trở lên.

 

Phát triển vững chắc công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp

 

Lãnh đạo phát triển công nghiệp tiểu thủ công nghiệp gắn với chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn. Phấn đấu giá trị sản xuất công nghiệp - xây dựng 5 năm (2006-2010) tăng bình quân 31 - 32% năm.

 

Củng cố, phát triển mạnh những ngành công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp có lợi thế, trước hết là công nghiệp chế biến lương thực, thực phẩm, công nghệ sau thu hoạch, sản xuất vật liệu xây dựng, các loại hình kinh tế đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội của địa phương.

 

Phát triển các ngành nghề tiểu thủ công nghiệp ở nông thôn, nhất là các ngành nghề truyền thống ở các bản, cụm dân cư. Hình thành các cụm công nghiệp ở Chiềng Sinh, Chiềng Ngần và khu tiểu thủ công nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng, sửa chữa nhỏ cơ khí ở các phường nội thị. Nhằm chuyển đổi nhanh cơ cấu kinh tế nông thôn theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá, chuyển một bộ phận lao động nông nghiệp sang sản xuất công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp.

 

Đổi mới công nghệ thiết bị, giảm giá thành, nâng cao năng xuất chất lượng hiệu quả sản xuất và khả năng cạnh tranh của sản phẩm trên thị trường.

 

Phát triển nông nghiệp kinh tế nông thôn

 

Đẩy nhanh chuyển dịch cơ cấu sản xuất, đưa ngành chăn nuôi trở thành ngành có tỷ trọng lớn trong nông nghiệp, gắn phát triển các trang trại chăn nuôi với các hộ gia đình, chú trọng công nghệ lai tạo giống từ đàn giống gốc và chuyển giao công nghệ; tăng cường công tác thú y, chế biến thức ăn chăn nuôi tại địa phương; giá trị sản xuất nông, lâm nghiệp tăng bình quân hàng năm 9 - 10%. Đến năm 2010, đàn bò 10.500 con, trong đó bò lai và bò thịt chất lượng cao 7.000 con, đàn trâu 4.500 con, đàn dê 5.500 con, đàn lợn trên 2 tháng tuổi 100.000 con, đàn gia cầm 1.047 nghìn con. Phát triển kinh tế nông nghiệp nông thôn theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá là nhiệm vụ trọng tâm hàng đầu trong những năm tới.

 

Tiếp tục rà soát, điều chỉnh quy hoạch sản xuất nông lâm nghiệp, gắn với quy hoạch kết cấu hạ tầng, điều chỉnh sắp xếp lại dân cư và xây dựng bản phát triển toàn diện, đặc biệt các vùng tái định cư Thuỷ điện Sơn La. Liên kết chặt chẽ nông, công nghiệp để nâng cao giá trị nông sản xuất khẩu, phát triển đa dạng các ngành nghề ở nông thôn, chú trọng các ngành nghề có giá trị gia tăng và giá trị sản xuất cao. Củng cố quan hệ sản xuất XHCN ở nông thôn, đảm bảo cho lực lượng sản xuất phát triển nhanh, bền vững.

 Tiếp tục đẩy mạnh sản xuất lương thực theo hướng thâm canh tăng năng xuất, nâng cao hệ số sử dụng đất từ 1,5 năm 2005 lên 2 lần vào năm 2010, tăng nhanh diện tích lúa thơm chất lượng cao. Đến năm 2010 chuyển 100% ruộng 1 vụ sang trồng rau, màu, hoa, trồng cây công nghiệp có giá trị kinh tế cao. Phấn đấu đến năm 2010 bình quân 1 ha đất sản xuất nông nghiệp 2 vụ lúa đạt giá trị trên 45 triệu đồng. Tập trung thâm canh cao các cây công nghiệp có giá trị kinh tế cao như cà phê, mía đường vùng Hua La, Chiềng Ngần, Chiềng Đen... Diện tích cà phê là 1.574 ha, sản lượng cà phê nhân là 2.325 tấn; duy trì diện tích mía hiện có. Giữ vững diện tích cây ăn quả là 1.500 ha với sản lượng quả tươi các loại 6.000 tấn/năm. Phát triển rau, hoa, cây cảnh phục vụ nhu cầu tại chỗ và công trường thuỷ điện Sơn La.

Trên cơ sở quy hoạch phát triển chung, chú trọng lãnh đạo đẩy mạnh phát triển nông nghiệp có lợi thế thị trường trên cơ sở ứng dụng cơ giới hoá, thuỷ lợi hoá, sinh học hoá... vào quá trình sản xuất, nhân rộng các mô hình kinh tế có giá trị sản xuất đạt 100 triệu đồng/1 ha đất nông nghiệp và công nghiệp.

 

Bảo vệ khôi phục phát triển vốn rừng hiện có, tăng nhanh diện tích trồng rừng mới, kết hợp khoanh nuôi, bảo vệ, tái sinh rừng­­­­. Trồng mới 400 ha rừng tập trung và rừng kinh tế, rừng lâm viên. Nâng độ che phủ rừng đến năm 2010 lên 45 - 50%.

 

Thực hiện tốt công tác tài chính, ngân sách

 

Tích cực huy động các nguồn lực trong dân và các thành phần kinh tế để mở rộng quy mô đầu tư phát triển. Cùng với quá trình phát triển sản xuất kinh doanh, tăng nhanh các nguồn thu, động viên các loại phí và lệ phí vào ngân sách. Đề cao vai trò lãnh đạo của các cấp uỷ đảng, vai trò chỉ đạo điều hành của chính quyền các cấp và vai trò tham mưu của các ngành, đoàn thể trong công tác thu. Phấn đấu thu ngân sách thị xã được phân cấp đến năm 2010 đạt 125 đến 130 tỷ đồng. Chi ngân sách đảm bảo tiết kiệm, hiệu quả; ưu tiên chi ngân sách cho đầu tư phát triển. Đẩy mạnh huy động vốn, mở rộng các hình thức cho vay, chú trọng đối với các xã có  khó khăn và hộ nghèo, phấn đấu đến năm 2010 huy động vốn tại địa phương tăng gấp 3 - 4 lần so với năm 2005, bình quân mỗi năm tăng 25,2%, đáp ứng yêu cầu cơ bản tăng trưởng, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, chỉnh trang đô thị và những yêu cầu bức xúc của đời sống xã hội.

 

Tăng cường công tác kiểm tra, thanh tra thực hiện Luật ngân sách và Luật các tổ chức tín dụng nhằm đảm bảo sử dụng vốn có hiệu quả và bảo toàn vốn.

 

Khai tác mọi nguồn lực xây dựng kết cấu hạ tầng đô thị và phát triển nông thôn mới theo tiêu chí đô thị loại III - Thành phố trực thuộc Tỉnh.

 

Tiếp tục đầu tư xây dựng, nâng cấp kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội. Tập trung đầu tư đồng bộ các vùng sản xuất hàng hoá tập trung, hệ thống dịch vụ kỹ thuật, hệ thống thuỷ lợi, giao thông, điện, nước sạch. Xây dựng các cơ sở đào tạo, cơ sở chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ, các thiết chế văn hoá như: Trung tâm văn hoá thông tin thể thao, công viên, sân chơi, bãi tập, rạp chiếu phim... để đảm bảo vượt các tiêu chí của đô thị loại III và trở thành thành phố vào năm 2008.

 

Đẩy mạnh xây dựng phát triển đô thị, nâng cao chất lượng công tác quy hoạch, quản lý quy hoạch, thúc đẩy kinh tế đô thị phát triển. Đẩy mạnh quy hoạch sản xuất, quy hoạch đô thị, quy hoạch nông thôn. Mở rộng đô thị về phía Nà Sản, sớm hình thành khu công nghiệp công nghệ cao Chiềng Sinh - Nà Sản; hoàn chỉnh trung tâm hành chính thành phố tại Chiềng Ngần. Trong quy hoạch và xây dựng phải đảm bảo kết hợp giữa hiện đại và giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc; giữa xây dựng mới và bảo vệ, tôn tạo cảnh quan môi trường.

 

Tiếp tục đổi mới, tạo bước chuyển biến mạnh về công tác quản lý đô thị, quản lý đất đai. Chủ động đề xuất với các cơ quan chức năng của tỉnh xây dựng cơ chế phân cấp quản lý đô thị và một số lĩnh vực công tác khác để trình HĐND, UBND Tỉnh quyết định. Tích cực huy động vốn đầu tư để thực hiện các chương trình mục tiêu.

 

Tích cực đầu tư xây dựng hệ thống thuỷ lợi tưới ẩm ở các vùng sản xuất tập trung, tưới ẩm đồng cỏ, xây dựng và khai thác có hiệu quả hồ bản Mòng, hệ thống thuỷ lợi Chiềng Ngần, Chiềng Đen...

 Phát triển mạng lưới giao thông đô thị và hệ thống giao thông nông thôn, nâng cấp và mở mới các tuyến đường giao thông quan trọng tới các xã và vùng kinh tế, khu du lịch, khu mở rộng đô thị, xây dựng đồng bộ hiện đại hoá các tuyến đường giao thông nội thị, hoàn thành các tuyến đường Huổi Hin - Chiềng Ngần - Chiềng Sinh; Chiềng Ngần - Chiềng Xôm, Chiềng Xôm - Chiềng Đen; Xây dựng các bến xe tĩnh tại ngã ba Mai Sơn, Chiềng Ngần, Chiềng Xôm. Đặc biệt ưu tiên phát triển giao thông nông thôn.

Hoàn thành cấp nước sinh hoạt, nước sản xuất cho vùng Chiềng Sinh, Chiềng Ngần. Hoàn chỉnh hệ thống thoát nước mặt đô thị. Triển khai thực hiện các dự án khu đô thị mới gắn với dự án cải tạo nắn suối Nậm La để thoát nước và tạo cảnh quan đô thị.

 

Phát triển hệ thống điện năng, cải tạo nâng cấp, hiện đại hoá hệ thống lưới điện Thị xã, đảm bảo cung cấp điện ổn định phục vụ sản xuất và sinh hoạt. Tiếp tục xây dựng hệ thống đèn chiếu sáng tại các trục đường chính nội thị, dọc Quốc lộ 6 đến sân bay Nà Sản. Mở rộng mạng lưới bưu chính viễn thông hiện đại, đồng bộ và đa dạng loại hình dịch vụ đáp ứng tốt nhất nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội. Phấn đấu đến năm 2010 mật độ điện thoại đạt 30 máy/100 dân.

 

Thực hiện có hiệu quả chương trình kiên cố hoá trường học ở các cấp học. Đến năm 2010 hoàn thành dự án xây dựng trường Đại học Tây Bắc, trung tâm dạy nghề; xây dựng bệnh viện Thị xã; nâng cấp bệnh viện Tỉnh. Xây dựng trung tâm văn hoá thể dục thể thao khu Chiềng Ngần, Chiềng Sinh, công viên cầu 308... góp phần đáp ứng tiêu chí Thành phố vào năm 2008.

 

Trên cơ sở quy hoạch chung, lãnh đạo, chỉ đạo tổ chức thực hiện có hiệu quả các dự án xây dựng kết cấu hạ tầng đã được duyệt; lãnh đạo đẩy mạnh đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng ở các xã, bản; từng bước đô thị hoá các trung tâm xã, cụm bản, đảm bảo xây dựng đô thị Thị xã Sơn La gắn kết hài hoà và thúc đẩy sự phát triển đô thị chung của toàn tỉnh.

 

Hoàn thành nhiệm vụ di dân tái định cư Thuỷ điện Sơn La

 

Phấn đấu đến năm 2008 hoàn thành việc xây dựng cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội tại 10 điểm đón dân ở 4 xã (Chiềng Cọ, Chiềng Ngần, Chiềng Sinh, Chiềng Đen), để tiếp nhận 525 hộ tái định cư phục vụ xây dựng Thuỷ điện Sơn La. Gắn chặt chương trình di dân tái định cư với chuyển dịch cơ cấu kinh tế, sắp xếp ổn định dân cư và xây dựng bản phát triển toàn diện theo hướng CNH-HĐH nông nghiệp nông thôn. Đảm bảo đến năm 2010 nhân dân vùng tái định cư ổn định cuộc sống, thu nhập bình quân từ trung bình khá trở lên.

 

Triển khai một cách đồng bộ, có hiệu quả các chương trình dự án sản xuất kinh doanh, các hoạt động dịch vụ, du lịch phục vụ quá trình thi công xây dựng công trình Thuỷ điện Sơn La.

 

Cùng với chỉ đạo xây dựng các khu tái định cư Thuỷ điện Sơn La, coi trọng quy hoạch, xây dựng các khu tái định cư đô thị, đáp ứng được yêu cầu giải phóng mặt bằng xây dựng các công trình trên địa bàn, nhất là các khu tái định cư cho các bản ở Chiềng Ngần để phục vụ cho xây dựng khu đô thị mới.

 

Đầu tư phát triển nâng cao chất lượng nguồn nhân lực

 

a. Nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện.

 

Tiếp tục quán triệt quan điểm "Giáo dục là quốc sách hàng đầu"  và tạo sự chuyển biến căn bản, toàn diện trong phát triển giáo dục và đào tạo. Củng cố và duy trì kết quả phổ cập giáo dục tiểu học - xã mù chữ, phổ cập trung học cơ sở và phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi. Chủ động phát triển mạng lưới trường lớp cho phù hợp với tốc độ phát triển dân số ở các khu tái định cư và khu đô thị mới.

 

Coi trọng giáo dục toàn diện cả đức, trí, thể, mĩ cho học sinh. Kết hợp tốt giữa nhà trường, gia đình và xã hội, xây dựng môi trường giáo dục lành mạnh, nhà trường không có tệ nạn xã hội.

 

Chuẩn hoá đội ngũ giáo viên, nâng cao chất lượng dạy và học. Lãnh đạo cơ sở phát huy có hiệu quả hoạt động của trung tâm học tập cộng đồng nhằm nâng cao trình độ văn hoá, khoa học kỹ thuật, năng lực nhận thức của nhân dân. Đẩy mạnh phong trào học tập của toàn dân, xây dựng xã hội học tập, quan tâm công tác khuyến học, khuyến tài ở các nhà trường và cơ sở. Chỉ đạo hưởng ứng có hiệu quả cuộc vận động "Nói không với tiêu cực trong thi cử và bệnh thành tích trong giáo dục".

 

Thực hiện có hiệu quả chủ trương xã hội hoá giáo dục, mở rộng mô hình trường tư thục, dân lập để huy động nguồn lực cho phát triển sự nghiệp giáo dục đào tạo.

 

Phấn đấu đến năm 2010 toàn thị có ít nhất 70% trẻ em trong độ tuổi đến nhà trẻ, 100% trẻ em trong độ tuổi đi mẫu giáo, 100% trẻ em 6 tuổi vào lớp 1, ít nhất từ 98% trở lên được công nhận tốt nghiệp THCS, 100% các trường THCS được tin học hoá, 10 - 12 trường đạt chuẩn quốc gia, tiến tới phổ cập bậc trung học, duy trì giữ vững là đơn vị dẫn đầu phong trào giáo dục toàn tỉnh.

 

Hoàn thành chương trình kiên cố hoá trường học, phấn đấu xoá nhà lớp học cấp 4 đã xuống cấp vào năm 2010.

 

b. Đa dạng hoá hình thức và nâng cao chất lượng đào tạo nguồn nhân lực.

 

Tăng cường đào tạo nguồn nhân lực cho sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Thực hiện tốt việc quy hoạch và đào tạo nguồn nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, chú trọng đào tạo nhân lực có trình độ khoa học, công nghệ trình độ cao, cán bộ quản lý giỏi và công nhân kỹ thuật lành nghề, quan tâm đào tạo nhân lực cho nông thôn để thực hiện chuyển dịch cơ cấu kinh tế và chuyển dịch lao động.

 

Phát triển đa dạng các loại hình đào tạo, ngành đào tạo. Kết hợp giữa các phương thức đào tạo chính quy với đào tạo tại chức, làm tốt công tác xã hội hoá trong đào tạo. Nâng cao chất lượng đào tạo tại các trường Cao đẳng, THCN, THPT, đảm bảo cho quá trình đào tạo vừa đáp ứng yêu cầu trước mắt và chuẩn bị nhân lực có đủ đức, đủ tài phục vụ cho giai đoạn phát triển tiếp theo của địa phương.

 

Phấn đấu đến năm 2010 tỷ lệ lao động qua đào tạo nghề và tập huấn chuyển giao khoa học kỹ thuật đạt 45 - 50%. Quan tâm đào tạo nghề, đào tạo cán bộ quản lý đối với con em đồng bào các dân tộc.

 

Coi trọng công tác ứng dụng, chuyển giao khoa học - công nghệ vào sản xuất và quản lý.

 

Đẩy mạnh ứng dụng khoa học, công nghệ đáp ứng yêu cầu nâng cao năng xuất, chất lượng sản phẩm, hiệu quả sản xuất kinh doanh, tăng khả năng cạnh tranh của nền kinh tế. Chú trọng ứng dụng khoa học công nghệ trong kĩnh vực sản xuất, chuyển dịch cơ cấu kinh tế (công nghệ sinh học trong việc hình thành giống chất lượng cao, kỹ thuật thâm canh, bảo quản, chế biến sau thu hoạch); công nghệ vật liệu mới, cơ khí hoá, công nghệ thông tin (trong công tác lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành của hệ thống chính trị). Đổi mới công nghệ trong sản xuất kinh doanh và các lĩnh vực hoạt động khác, phấn đấu thu hẹp khoảng cách về trình độ so với cả nước, ứng dụng những công nghệ tiên tiến, hiện đại đối với một số ngành, lĩnh vực mà địa phương có lợi thế. Tập trung chỉ đạo công tác tuyên truyền khuyến nông, khuyến lâm, khuyến ngư, khuyến công, khuyến khích các thành phần kinh tế phát huy nội lực đưa khoa học và công nghệ đến phục vụ sản xuất và đời sống.

 

Nâng cao chất lượng phong trào xã hội hoá sự nghiệp y tế chăm sóc sức khoẻ của nhân dân.

 

Phát triển sự nghiệp y tế, bảo vệ, chăm sóc sức khoẻ cho nhân dân đặc biệt là các đối tượng chính sách, người nghèo, thực hiện tốt chế độ cấp bảo hiểm y tế cho người nghèo. Tiếp tục vận động KHHGĐ, ổn định quy mô dân số ở mức hợp lý.

 

Nâng cao chất lượng công tác phòng chống dịch bệnh, khám chữa bệnh, chăm sóc sức khoẻ cho nhân dân. Xây dựng cơ sở khám chữa bệnh tại khu đô thị mới Chiềng Ngần, lãnh đạo triển khai có hiệu quả các chương trình y tế Quốc gia, kiên quyết không để các dịch bệnh lớn xảy ra. Có biện pháp quản lý và đẩy lùi sự lây truyền HIV/AIDS trong cộng đồng. Củng cố, nâng cao chất lượng khám, điều trị của mạng lưới y tế từ thị cho đến cơ sở, cùng với tăng cường giáo dục nâng cao y đức của thầy thuốc, coi trọng từng bước hiện đại hoá trang thiết bị, dụng cụ y tế tại các trung tâm khám chữa bệnh. Tăng cường kiểm tra an toàn thực phẩm. Phấn đấu đến năm 2010, 100% trạm y tế xã có bác sĩ; 80% xã đạt chuẩn quốc gia về y tế; tỷ lệ suy dinh dưỡng trẻ em dưới 5 tuổi còn dưới 15%; tỷ lệ dân số tự nhiên tăng 1%.

 

Đầu tư phát triển văn hoá, nền tảng tinh thần của xã hội. Nâng cao chất lượng đời sống nhân dân; nâng cao chất lượng phong trào văn nghệ, thể thao, hoạt động thông tin đại chúng, giải quyết tốt chính sách xã hội.

 

Tiếp tục thực hiện nghị quyết Trung ương 5 khoá VIII về "Xây dựng và phát triển nền văn hoá Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc" và Kết luận Hội nghị BCH TW 10 khoá IX. Hoàn chỉnh các quy hoạch phát triển ngành Văn hoá, thông tin, thể dục thể thao như bảo tàng, thư viện, công viên, khu vui chơi giải trí. Bảo tồn và phát huy bản sắc tốt đẹp của các dân tộc. Xây dựng và phát triển những giá trị mới về văn hoá, phát triển văn hoá làm nền tảng tinh thần của xã hội, gắn kết đồng bộ  với phát triển kinh tế là trung tâm xây dựng Đảng là then chốt.

 

Tiếp tục triển khai sâu rộng cuộc vận động "Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá", xây dựng nếp sống văn minh, gia đình, cơ quan, đơn vị, tổ, bản, xã, phường văn hoá. Xây dựng các công trình văn hoá, các khu vui chơi công cộng, các bản văn hoá du lịch, các điểm văn hoá, thể thao, dịch vụ.

 

Đẩy mạnh các phong trào văn hoá văn nghệ, thể dục, thể thao quần chúng, phát triển các môn thể thao dân tộc; xây dựng, bồi dưỡng đội ngũ vận động viên có thành tích cao để tham gia thi đấu trong tỉnh và Quốc gia.

 

Phấn đấu đến năm 2010 có 100% dân số được xem truyền hình, 100% tổ, bản, tiểu khu có nhà văn hoá; 80% tổ, bản, tiểu khu đạt tiêu chuẩn văn hoá; 45 - 50% bản đạt tiêu chí bản phát triển toàn diện; 95% hộ gia đình đạt tiêu chuẩn văn hoá. Duy trì và nâng cao chất lượng hoạt động của các đội văn nghệ quần chúng.

 

Trong 5 năm 2006-2010 tập trung tạo việc làm cho khoảng 7,5 nghìn người với giải pháp tích cực chuyển dịch cơ cấu lao động theo hướng tăng lao động cho sản xuất công nghiệp, xây dựng và dịch vụ. Tiếp tục thực hiện chương trình giảm nghèo, phấn đấu đến năm 2010 tỷ lệ hộ nghèo còn dưới 5% theo tiêu chí giai đoạn 2006 - 2010.

 

Thực hiện tốt các chính sách xã hội như chăm sóc người có công, gia đình thương binh, liệt sỹ, công tác bảo trợ xã hội, chữ thập đỏ.

 

Giải quyết có hiệu quả và cơ bản những vấn đề xã hội bức xúc. Đẩy lùi các TNXH, nhất là tệ nạn ma tuý, HIV/AIDS.

 

Chủ động cùng với tỉnh xây dựng cơ chế thu hút dân cư trong và ngoài tỉnh đến cư trú trên địa bàn Thị xã, nhất là lao động có tay nghề, lao động phi nông nghiệp.

  

13/04/2007

Phiên bản inPhiên bản in